Quản trị an ninh nguồn nước: Những "điểm nghẽn" và giải pháp vận hành chủ động
(Chinhphu.vn) - Nhiều "điểm nghẽn" cần được tháo gỡ để đảm bảo an ninh nguồn nước như cần cơ chế tài chính liên hồ chứa để không lãng phí nước xả, quy định pháp luật chồng chéo và dữ liệu quan trắc còn phân tán…

Ông Lương Xuân Chính, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải - Ảnh: chinhphu.vn/Đỗ Hương
Có nguồn nước nhưng chưa khai thác hiệu quả
Một trong những vấn đề được các chuyên gia đặt ra là làm thế nào để phối hợp tốt hơn giữa các hồ thủy điện và hệ thống thủy lợi, đưa nước đến đúng nơi, đúng thời điểm cần sử dụng.
GS. Nguyễn Quốc Dũng, Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam dẫn chứng, tại lưu vực sông Hồng, có những năm các hồ thủy điện phải xả khoảng 5 tỷ m³ nước phục vụ hạ du, nhưng lượng nước thực tế được các công trình thủy lợi khai thác cho sản xuất nông nghiệp chỉ khoảng 1,5 tỷ m³.
Theo ông, một trong những nguyên nhân là việc tính toán thời điểm xả nước và lấy nước chưa thực sự phù hợp, trong khi cơ chế phối hợp và chia sẻ chi phí giữa các đơn vị liên quan còn bất cập.
Khó khăn này cũng được phản ánh từ thực tế vận hành hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải.
Ông Lương Xuân Chính, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải cho biết, mực nước sông Hồng tại cống Xuân Quan thường xuyên ở mức thấp, khiến lượng nước lấy qua cống chỉ đạt khoảng 20% công suất thiết kế. Trong mùa khô, các trạm bơm phải hoạt động hết công suất để phục vụ sản xuất.
Bên cạnh đó, tình trạng xả thải trái phép, lấn chiếm dòng chảy cũng ảnh hưởng đến hoạt động khai thác, sử dụng nước. Doanh nghiệp còn gặp vướng mắc về thủ tục cấp phép đối với các công trình thủy lợi được xây dựng từ lâu.
Không chỉ trong lĩnh vực thủy lợi, các doanh nghiệp thủy điện cũng gặp khó khăn khi vừa phải bảo đảm hoạt động phát điện, vừa duy trì nguồn nước cho khu vực hạ du.
Theo ông Trần Anh Phương, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Sông Đà 9, các hồ thủy điện nhỏ có khả năng tích trữ và điều tiết nước hạn chế nên việc cân đối giữa phát điện và xả nước trong mùa khô không dễ dàng. Cùng với đó, việc phải thực hiện nhiều thủ tục, báo cáo có nội dung trùng lặp cũng tạo thêm áp lực cho doanh nghiệp.
Từ những vấn đề trên, các ý kiến cho rằng cần có cơ chế phối hợp rõ ràng hơn giữa các đơn vị khai thác, sử dụng nước, đồng thời tháo gỡ những thủ tục chưa phù hợp với thực tiễn.

GS Nguyễn Quốc Dũng, Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam - Ảnh: chinhphu.vn/Đỗ Hương
Chủ động phân phối nước, giảm nguy cơ thiếu hụt
Theo các chuyên gia, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nhu cầu sử dụng nước ngày càng lớn, việc quản lý nguồn nước không chỉ dừng ở xây dựng, vận hành các công trình mà còn phải chủ động dự báo, tính toán và phân phối nước hợp lý.
Luật Tài nguyên nước năm 2023, có hiệu lực từ ngày 1/7/2024, đã đặt ra yêu cầu quản lý thống nhất nguồn nước theo lưu vực sông, kết hợp với địa giới hành chính. Đây là cơ sở để tăng cường phối hợp giữa các địa phương, ngành và đơn vị cùng khai thác, sử dụng một nguồn nước.
ThS. Nguyễn Thị Phương Hoa, Trưởng phòng Lưu vực sông Nam Trung Bộ, Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, trước nguy cơ thiếu nước do tác động của El Niño, việc xây dựng các kịch bản nguồn nước có vai trò quan trọng.
Thay vì chỉ xử lý khi hạn hán, thiếu nước xảy ra, các cơ quan quản lý cần có phương án từ trước để xác định khả năng đáp ứng của nguồn nước và thứ tự ưu tiên sử dụng trong từng tình huống.
Yêu cầu này càng trở nên cần thiết khi một số khu vực được dự báo sẽ thiếu nước trong dài hạn.
Theo ông Phạm Công Thành, Trưởng phòng Quy hoạch thủy lợi Bắc Trung Bộ, Viện Quy hoạch Thủy lợi, đến năm 2050, khu vực Bắc Trung Bộ có thể thiếu khoảng 2,9 tỷ m³ nước mỗi năm. Vì vậy, cần nghiên cứu các phương án bổ sung, điều chuyển nguồn nước giữa các khu vực, đồng thời đánh giá kỹ tác động đến môi trường và đời sống người dân.
Một giải pháp khác được các chuyên gia nhấn mạnh là ứng dụng công nghệ để quản lý và chia sẻ thông tin về nguồn nước.
PGS.TS Nguyễn Mai Đăng đề xuất xây dựng hệ thống dữ liệu tài nguyên nước dùng chung, giúp cơ quan quản lý, đơn vị vận hành hồ chứa và các đối tượng sử dụng nước có thể tiếp cận, trao đổi thông tin kịp thời.
Khi có đầy đủ thông tin về lượng nước hiện có, nhu cầu sử dụng và diễn biến thời tiết, các bên sẽ có thêm cơ sở để phối hợp vận hành, hạn chế tình trạng nơi thiếu nước, nơi chưa sử dụng hết nguồn nước được phân bổ.
Cùng với việc tăng cường chia sẻ dữ liệu, các chuyên gia và doanh nghiệp cũng kiến nghị hoàn thiện quy chế phối hợp vận hành hồ chứa, quy định rõ trách nhiệm và chi phí giữa các bên; đơn giản hóa thủ tục cấp phép đối với công trình thủy lợi đã hoạt động lâu năm và giảm các yêu cầu báo cáo trùng lặp.
Những đề xuất này cho thấy, để Luật Tài nguyên nước năm 2023 đi vào thực tiễn, bên cạnh hoàn thiện quy định pháp luật, cần giải quyết những vướng mắc phát sinh ngay trong quá trình khai thác, vận hành các công trình.
Đỗ Hương