Từ văn bằng đến thị trường: Cần Thơ gỡ nút thắt thương mại hóa tài sản trí tuệ
(Chinhphu.vn) - Cần Thơ đã có 12.187 đơn đăng ký sở hữu công nghiệp và khoảng 8.856 văn bằng bảo hộ. Nhưng phía sau những con số ấy là một bài toán khó hơn: Làm thế nào để sáng chế, nhãn hiệu, kết quả nghiên cứu không dừng ở văn bằng mà thực sự đi vào sản xuất, giao dịch và tạo ra giá trị trên thị trường?

Các nhà khoa học, nhà quản lý và doanh nghiệp tham dự Hội thảo - Ảnh: chinhphu.vn/Lê Sơn
Sáng 24/9, Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ tổ chức Hội thảo “Tăng cường quản lý, khai thác và thương mại hóa tài sản trí tuệ”, với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, viện, trường và doanh nghiệp.
Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ Lê Mỹ Hạnh đặt vấn đề, trong nền kinh tế tri thức và kinh tế số, tài sản trí tuệ “không chỉ dừng lại ở một văn bằng bảo hộ”. Giá trị của tài sản chỉ được phát huy khi được quản lý, khai thác hiệu quả và từng bước tạo ra giá trị kinh tế, thương mại, xã hội.
Theo bà Lê Mỹ Hạnh, hoạt động đăng ký bảo hộ trên địa bàn đã có bước phát triển đáng kể, nhưng vấn đề quan trọng hiện nay là làm thế nào để tài sản trí tuệ sau khi được bảo hộ tiếp tục được phát triển và tạo ra giá trị trên thị trường.
Bảo hộ mới là bước đầu
Theo báo cáo của Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ, đến nay Thành phố có 12.187 đơn đăng ký sở hữu công nghiệp, gồm 11.525 nhãn hiệu, 421 kiểu dáng công nghiệp và 241 sáng chế.
Khoảng 8.856 văn bằng bảo hộ đã được cấp, gồm 8.478 nhãn hiệu, 295 kiểu dáng công nghiệp và 83 sáng chế. Thành phố hiện có 3 chỉ dẫn địa lý, 9 nhãn hiệu chứng nhận và 42 nhãn hiệu tập thể.
Từ tháng 7/2021 đến tháng 9/2026, Cần Thơ đã hỗ trợ hơn 250 doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong và ngoài nước, với tổng kinh phí hơn 5,5 tỷ đồng; đồng thời hỗ trợ thực hiện 20 nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển tài sản trí tuệ.
Tuy nhiên, báo cáo của Sở KH&CN cũng chỉ rõ một số doanh nghiệp vẫn chủ yếu quan tâm tới khâu đăng ký nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, trong khi chưa chú trọng xây dựng chiến lược khai thác và thương mại hóa sau bảo hộ.
Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa còn thiếu nhân lực, kiến thức và kinh nghiệm về định giá, chuyển giao quyền; các viện, trường có nhiều kết quả nghiên cứu, sáng chế, giải pháp kỹ thuật nhưng quá trình kết nối với doanh nghiệp và đưa sản phẩm ra thị trường vẫn gặp khó khăn.
Chương trình phát triển tài sản trí tuệ TP. Cần Thơ đến năm 2030 vì vậy không chỉ đặt mục tiêu tăng số lượng quyền được xác lập. Thành phố phấn đấu số lượng đơn đăng ký và văn bằng bảo hộ sáng chế tăng bình quân 16-18%/năm, tỉ lệ khai thác thương mại đạt 8-10%; đồng thời hỗ trợ tối thiểu 60% sản phẩm, dịch vụ chủ lực, đặc thù và sản phẩm OCOP trong đăng ký, quản lý, phát triển tài sản trí tuệ và kiểm soát nguồn gốc, chất lượng sau bảo hộ.

Bà Lê Mỹ Hạnh, Phó Giám đốc Sở KH&CN TP. Cần Thơ phát biểu tại Hội thảo - Ảnh: chinhphu.vn/Lê Sơn
'Đoạn giữa' từ sáng chế đến thị trường đang nghẽn ở đâu?
TS. Nguyễn Hữu Cẩn, Viện Sở hữu trí tuệ quốc gia cho rằng số đơn và văn bằng cho biết năng lực tạo lập, xác lập quyền, nhưng chưa phản ánh đầy đủ năng lực khai thác và thương mại hóa.
Theo phân tích của ông, hành trình từ một kết quả nghiên cứu đến giá trị kinh tế phải đi qua nhiều bước: Xác định rõ quyền sở hữu trí tuệ, hoàn thiện mức độ sẵn sàng của công nghệ, tìm nhu cầu thị trường, thiết kế giao dịch, đưa vào ứng dụng và đo lường kết quả. Điểm nghẽn thường nằm ở chính “đoạn giữa” này — từ hoàn thiện công nghệ, tìm nhu cầu đến kết nối đối tác và hình thành giao dịch.
Một vấn đề khác là dữ liệu quản trị tài sản trí tuệ còn phân tán. Báo cáo năm 2025 của Cần Thơ được ông Cẩn dẫn lại cho thấy việc quản lý nội bộ vẫn dựa vào Excel và một phần dữ liệu được công bố trên Cổng dữ liệu mở.
Theo hướng tiếp cận được đề xuất, chuyển đổi số cần tạo một hồ sơ xuyên suốt từ chủ thể quyền, tình trạng bảo hộ, mức độ sẵn sàng của công nghệ, nhu cầu thị trường đến đối tác, hợp đồng và kết quả khai thác. AI có thể hỗ trợ tra cứu, phân nhóm, lập bản đồ sáng chế, phát hiện rủi ro và phân tích, nhưng không thay thế trách nhiệm pháp lý và quyết định của nhà quản trị.
Thực tế tại Đại học Cần Thơ cho thấy rõ khoảng cách giữa năng lực sáng tạo và thương mại hóa. Theo PGS.TS Lê Nguyễn Đoan Khôi, Đại học Cần Thơ đóng góp 77% tổng số đơn và văn bằng bảo hộ sáng chế trên địa bàn thành phố, nhưng quá trình đưa tài sản trí tuệ ra thị trường vẫn gặp các vướng mắc về định giá tài sản vô hình, quản lý tài sản công hình thành từ ngân sách nhà nước, năng lực môi giới chuyển giao công nghệ và cơ chế cho doanh nghiệp khởi nguồn.
Tham luận cũng chỉ ra sự thiếu hụt các tổ chức, chuyên gia định giá tài sản vô hình và những bất đồng về phương pháp xác định giá có thể khiến quá trình đàm phán li-xăng kéo dài, làm lỡ thời điểm thương mại hóa công nghệ.
Định giá để tài sản trí tuệ có thể giao dịch
TS. Khổng Quốc Minh, Cục Đổi mới sáng tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ đặt định giá vào đúng điểm nối giữa tài sản trí tuệ và thị trường.
Theo ông, khi xác định được giá trị và lợi ích kinh tế có thể tạo ra từ tài sản trí tuệ, chủ sở hữu mới có cơ sở lựa chọn phương thức khai thác phù hợp: Chuyển nhượng, cấp phép sử dụng, tự thương mại hóa hoặc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn liên doanh, hợp tác.
Định giá vì thế không chỉ nhằm “gắn một con số” cho sáng chế hay nhãn hiệu, mà còn là cơ sở cho quyết định đầu tư và giao dịch. Tùy từng loại tài sản và dữ liệu sẵn có, việc định giá có thể tiếp cận từ thu nhập kỳ vọng, chi phí hình thành, dữ liệu thị trường hoặc kết hợp nhiều phương pháp.
Ở góc độ chính sách, TS. Khổng Quốc Minh đề cập yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế góp vốn, thế chấp bằng tài sản trí tuệ và công nghệ; thúc đẩy các tổ chức định giá, sàn giao dịch công nghệ và tài sản trí tuệ; đồng thời tăng quyền chủ động cho viện, trường trong quản lý, hợp tác và khai thác kết quả nghiên cứu.
Đây cũng là hướng được Chương trình phát triển tài sản trí tuệ của Cần Thơ xác định đến năm 2030: Hỗ trợ doanh nghiệp và tổ chức khoa học, công nghệ trong quản trị, tư vấn định giá, kiểm toán tài sản trí tuệ; hình thành mạng lưới chuyển giao quyền tại viện, trường, doanh nghiệp và hỗ trợ thành lập doanh nghiệp dựa trên sáng chế để rút ngắn quá trình đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh.
Cần Thơ đã có một nền tảng đáng kể về đăng ký và xác lập quyền sở hữu trí tuệ. Nhưng từ một văn bằng đến một hợp đồng chuyển giao, một dây chuyền sản xuất hay một sản phẩm bán được trên thị trường vẫn còn nhiều khâu phải nối lại.
Bài toán của giai đoạn tới vì thế không chỉ là có thêm bao nhiêu sáng chế, nhãn hiệu được bảo hộ, mà là bao nhiêu tài sản sau bảo hộ thực sự được định giá, giao dịch, ứng dụng và tạo ra giá trị. Khi những văn bằng bước được ra khỏi hồ sơ để đi vào thị trường, tài sản trí tuệ mới thực sự trở thành nguồn lực cho đổi mới sáng tạo và tăng trưởng của Cần Thơ.
Lê Sơn