• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

TUYỂN SINH ĐẠI HỌC: Từ năm 2028, mỗi ngành chỉ còn một phương thức xét tuyển?

(Chinhphu.vn) - Triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng dự thảo sửa đổi một số quy định về tuyển sinh đại học theo hướng giảm và chuẩn hóa phương thức xét tuyển, không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định, đồng thời tăng kiểm soát chuẩn đầu vào.

18/09/2026 08:28

Trao đổi về những đề xuất này, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, mục tiêu là đưa thí sinh dự tuyển vào cùng một ngành, một chương trình về cùng chuẩn đánh giá, bảo đảm công bằng nhưng không thu hẹp cơ hội của thí sinh hay quyền tự chủ của các trường. 

TUYỂN SINH ĐẠI HỌC: Từ năm 2028, mỗi ngành chỉ còn một phương thức xét tuyển?- Ảnh 1.

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo cho biết Dự thảo dẽ có một số thay đổi về tuyển sinh đại học nhằm bảo đảm công bằng cho các thí sinh - Ảnh: chinhphu.vn/Đỗ Cường

Thưa ông, dự thảo lần này tập trung vào những điều chỉnh nào để bảo đảm đồng đều, công bằng hơn trong tuyển sinh?

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo: Trong giai đoạn 2022-2026, một số điều chỉnh về tuyển sinh như bỏ xét tuyển sớm, quy đổi tương đương, giới hạn số phương thức, quy định ngưỡng đầu vào và mức điểm cộng tối đa đã tạo chuyển biến tích cực.

Đặc biệt, với các kỳ thi có bảng quy đổi chính thức, khoảng cách điểm với phương thức sử dụng kết quả thi tốt nghiệp THPT đã giảm từ 2,6 xuống còn 1,2 điểm.

Tuy nhiên, mức độ tương đương giữa các phương thức vẫn chưa đồng đều. Thống kê cho thấy trên 40% tổng số chương trình đào tạo sử dụng từ hai phương thức vẫn có biên độ điểm từ 3 điểm trở lên.

Từ thực tế đó, dự thảo tập trung vào bốn nhóm điều chỉnh: giảm và chuẩn hóa phương thức xét tuyển; không sử dụng điểm cộng ngoài điểm ưu tiên theo chính sách; xác định rõ nguồn tuyển và ngưỡng đầu vào; hoàn thiện điều kiện dự tuyển liên thông từ trung học nghề, trung cấp, cao đẳng lên đại học.

Dự thảo đồng thời yêu cầu chuẩn hóa độ lệch giữa các tổ hợp, tăng khai thác dữ liệu đã có và không yêu cầu thí sinh nộp lại giấy tờ, chứng chỉ đã có trên hệ thống.

Tinh thần xuyên suốt là tuyển sinh phải đi cùng chuẩn chất lượng, dữ liệu kiểm chứng được và trách nhiệm giải trình. Thí sinh được giảm gánh nặng phải theo dõi quá nhiều cách xét tuyển nhưng vẫn được sử dụng các kết quả học tập, thi và chứng chỉ phù hợp theo quy định của từng phương thức. 

Dự kiến áp dụng một phương thức xét tuyển đại học từ 2028

Một nội dung đang được quan tâm là từ năm 2028 áp dụng một phương thức đăng ký xét tuyển vào từng ngành, từng chương trình đào tạo. Quy định này nên được hiểu như thế nào, thưa ông?

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo: Theo dự thảo, năm 2027 áp dụng 3 phương thức và từ năm 2028 giảm xuống 1 phương thức đăng ký xét tuyển vào từng ngành đào tạo, từng chương trình đào tạo. Xét tuyển thẳng và cử tuyển không tính vào giới hạn này.

Ở cấp cơ sở đào tạo, dự thảo vẫn quy định sử dụng tối đa 5 phương thức. Đây là lộ trình để mỗi ngành lựa chọn cách đánh giá phù hợp nhất, không phải chủ trương bắt mọi trường, mọi ngành trên cả nước cùng sử dụng một kết quả duy nhất.

Thực tế giai đoạn 2022-2026 cho thấy chỉ 36,4% tổng số lượt chương trình đào tạo có căn cứ đối chiếu chính thức. Điểm học bạ trong cùng mã ngành cao hơn khá xa so với điểm thi tốt nghiệp THPT; trên 2.000 chương trình đào tạo có mức chênh giữa các phương thức từ 3 điểm trở lên.

Khi các thang đo chưa thực sự tương đương, việc một ngành có nhiều cửa xét tuyển có thể dẫn đến tình trạng thí sinh cùng năng lực nhưng được đánh giá khác nhau.

Vì vậy, giảm phương thức là để mở rộng cơ hội bình đẳng, không phải giảm cơ hội tiếp cận. Mỗi phương thức phải bảo đảm mọi thí sinh đủ điều kiện đều có thể tham gia, công bố rõ tiêu chí và sử dụng một thang điểm chung.

Cơ sở đào tạo có trách nhiệm lựa chọn phương thức phù hợp với yêu cầu đầu vào của chương trình. Kết quả thi riêng, học bạ hoặc chứng chỉ vẫn có thể được sử dụng khi được cấu trúc minh bạch trong phương thức đã công bố. 

TUYỂN SINH ĐẠI HỌC: Từ năm 2028, mỗi ngành chỉ còn một phương thức xét tuyển?- Ảnh 2.

Dự thảo đề xuất không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định - Ảnh: chinhphu.vn/Thu Trang

Xét tuyển đại học: Đề xuất không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định

Dự thảo đề xuất không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định. Vì sao Bộ đưa ra đề xuất này và các chứng chỉ, trong đó có chứng chỉ ngoại ngữ, sẽ được sử dụng như thế nào?

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo: Dự thảo không bãi bỏ điểm ưu tiên theo khu vực, đối tượng chính sách và không ảnh hưởng đến xét tuyển thẳng theo Quy chế. Nội dung được đề xuất là không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định cho thành tích, chứng chỉ hoặc tiêu chí bổ sung.

Trên thực tế, điểm cộng có thể tạo ra bất bình đẳng. 

Thứ nhất, cơ hội tiếp cận chứng chỉ, kỳ thi hoặc hoạt động được cộng điểm khác nhau theo điều kiện kinh tế, địa bàn và khả năng chi trả. 

Thứ hai, cùng một loại chứng chỉ nhưng mức quy đổi, mức cộng và tổ hợp áp dụng khác nhau giữa các trường. 

Thứ ba, một năng lực có thể được ghi nhận hai lần - vừa là thành phần điểm xét tuyển, vừa được cộng thêm - làm sai lệch thứ tự thí sinh. 

Thứ tư, ở nhóm điểm cao, chỉ một phần điểm cộng nhỏ cũng có thể thay đổi kết quả trúng tuyển, dù chưa chứng minh được mức điểm đó phản ánh tốt hơn khả năng học tập của chương trình. 

Cách xử lý phù hợp hơn là đánh giá đúng năng lực, đúng chỗ. Chẳng hạn, thí sinh có chứng chỉ năng lực ngoại ngữ vẫn có thể được quy đổi vào môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển theo quy tắc công khai, hoặc dùng để chứng minh yêu cầu đầu vào của chương trình đào tạo bằng ngoại ngữ.

Khi đó, chứng chỉ được sử dụng như một minh chứng năng lực có liên quan trực tiếp, thay vì trở thành một khoản điểm cộng ngoài thang đo. Nguyên tắc là một năng lực được ghi nhận một lần, theo cùng quy tắc đối với mọi thí sinh.

Đối với đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, dự thảo có thay đổi gì trong việc xác định quy mô tuyển sinh?

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo: Đối với đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, dự thảo chuyển trọng tâm từ một trần kỹ thuật cứng sang nguyên tắc số lượng tuyển sinh không vượt quá năng lực đào tạo thực tế của cơ sở.

Năng lực này phải được chứng minh bằng đội ngũ giảng viên, người hướng dẫn, chương trình, cơ sở vật chất, hoạt động nghiên cứu, bảo đảm chất lượng và kết quả đào tạo.

Đối với cơ sở giáo dục đại học trọng điểm hoặc cơ sở đang thực hiện đề án do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, dự thảo cho phép cơ sở giáo dục đại học chủ động xây dựng lộ trình đến năm 2030 để người học sau đại học đạt tối thiểu 20% tổng số người học.

Quy định này nhằm phát huy năng lực của các cơ sở có sứ mạng nghiên cứu và đào tạo nhân lực trình độ cao, cung cấp nguồn nhân lực phục vụ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia; đồng thời gắn mở rộng quy mô với trách nhiệm hoàn thành đề án và chuẩn chất lượng. 

Bộ GDĐT sẽ đánh giá tác động trước khi ban hành

Dự thảo cũng đặt ra yêu cầu chuẩn hóa mã các phương thức xét tuyển. Việc này nhằm giải quyết vấn đề gì, thưa ông?

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo: Dự thảo đưa ra danh mục mã thống nhất để cùng một bản chất xét tuyển được gọi và báo cáo thống nhất, qua đó chuẩn hóa dữ liệu. Các kỳ thi riêng được dành các mã khai báo từ 402 đến 489; phương thức kết hợp sử dụng các mã từ 500 đến 599 và các phương thức khác cũng được chuẩn hóa tương tự.

Dự thảo không liệt kê tên từng kỳ thi riêng của từng cơ sở đào tạo. Việc chuẩn hóa mã nhằm công khai cấu phần, thuận lợi trong kiểm tra dữ liệu và giúp thí sinh dễ hiểu, dễ so sánh hơn.

Hiện dự thảo đang trong quá trình lấy ý kiến. Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tiếp tục đánh giá tác động, lắng nghe ý kiến của thí sinh, cơ sở đào tạo và chuyên gia trước khi ban hành. 

Thu Trang