Xác định 8 nhiệm vụ công nghệ chiến lược cho đường sắt tốc độ cao
(Chinhphu.vn) - Công nghệ chiến lược đường sắt tốc độ cao phải đáp ứng các mục tiêu về làm chủ công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa theo các Nghị quyết 172 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, Nghị quyết 188 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại TP.Hà Nội, TPHCM.

Đoàn công tác Bộ Xây dựng và các nhà khoa học khảo sát năng lực thực tiễn các đơn vị trong nghiên cứu, sản xuất - Ảnh: Tạ Hải
Ngày 18/6, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh đã chủ trì họp Hội đồng xác định nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược trong lĩnh vực đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.
Ông Lê Văn Dương, Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và Vật liệu xây dựng cho biết, triển khai Quyết định số 21 và Quyết định số 808 của Thủ tướng Chính phủ về danh mục công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược; giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, lãnh đạo Bộ Xây dựng đã tổ chức nhiều cuộc họp với các cơ quan tham mưu, cơ quan, đơn vị có liên quan để triển khai thực hiện.
Bộ Xây dựng cũng đã thành lập Hội đồng xác định nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược trong lĩnh vực đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị của Bộ (Hội đồng) do Bộ trưởng Trần Hồng Minh là Chủ tịch hội đồng. Cùng đó, thành lập Tổ chuyên gia giúp việc Hội đồng xác định nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược trong lĩnh vực đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị của Bộ Xây dựng.
Nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh khẳng định: Nghiên cứu công nghệ chiến lược lĩnh vực đường sắt là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng. Đây là tiền đề để từng bước làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi lĩnh vực đường sắt, từ đó năng lực nội tại quốc gia về phát triển công nghiệp đường sắt, không phụ thuộc vào nước ngoài.
Sau khi xác định được các nhiệm vụ chiến lược, làm rõ tính cần thiết và được phê duyệt, phải xây dựng được đề cương triển khai chi tiết, cụ thể về trách nhiệm đơn vị chủ trì, tham gia; sản phẩm của nhiệm vụ, lộ trình, kinh phí để kiểm soát về tiến độ, chất lượng. Cùng đó, xác định các nhiệm vụ khoa học công nghệ đột phá, đổi mới sáng tạo để triển khai thực hiện, góp phần phát triển hệ sinh thái công nghiệp đường sắt.
Đáp ứng mục tiêu về làm chủ công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa
Thống nhất cần xác định rõ các nhiệm vụ, đề tài cụ thể, thiết thực, các đại biểu cũng đề nghị các nhiệm vụ phải đáp ứng các mục tiêu về làm chủ công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa theo các Nghị quyết 172 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, Nghị quyết 188 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại TP. Hà Nội, TP.HCM.
Các nhiệm vụ phải có sản phẩm cụ thể, hữu hình như vật tư, thiết bị thay thế, đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong quá trình vận hành, khai thác và bảo trì đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị… Đồng thời phải phù hợp với năng lực sản xuất của doanh nghiệp trong nước, để đảm bảo tính khả thi. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý Nhà nước, nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, phân rõ trách nhiệm, nội dung công việc của đơn vị chủ trì, từng đơn vị phối hợp…
Sau khi xem xét, đánh giá, Hội đồng đã xác định danh mục gồm 8 nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược trong lĩnh vực đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị tại Việt Nam để báo cáo cấp thẩm quyền phê duyệt.
Theo đó, có các nhiệm vụ: Nghiên cứu làm chủ công nghệ sản xuất ray và phụ kiện liên kết ray; Nghiên cứu phát triển các hệ kết cấu đường ray cho đường sắt tốc độ cao; Nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ vật liệu, xử lý đất yếu nền đường và vùng chuyển tiếp công trình cho đường sắt tốc độ cao - bảo đảm kiểm soát lún dài hạn, ổn định hình học tuyến và an toàn khai thác.
Cùng đó là nhiệm vụ Nghiên cứu, phát triển mạng 5G dành cho đường sắt tốc độ cao; Nghiên cứu phát triển hệ thống liên khóa máy tính CBI; Nghiên cứu thiết kế, chế tạo một số cụm chi tiết, chi tiết cốt lõi phục vụ nội địa hóa ngành công nghiệp đường sắt Việt Nam; Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo toa tàu đặc biệt theo tiêu chuẩn STANAG 4569; Thành lập phòng thí nghiệm trọng điểm phục vụ công nghệ chiến lược đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị.
Phan Trang