• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Xây dựng thị trường Carbon: Lộ trình chiến lược và cơ hội bứt phá cho doanh nghiệp

(Chinhphu.vn) - Vận hành thị trường Carbon không chỉ là một cam kết quốc tế mà còn là động lực cốt lõi để Việt Nam thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050. Với những bước đi bài bản về pháp lý và hạ tầng kỹ thuật, Việt Nam đang chuẩn bị chính thức vận hành thị trường carbon trong nước, mở ra một chương mới cho sự phát triển bền vững của cộng đồng doanh nghiệp.

27/05/2026 14:01
Xây dựng thị trường Carbon: Lộ trình chiến lược và cơ hội bứt phá cho doanh nghiệp- Ảnh 1.

Thị trường carbon chính là "chìa khóa" để thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao và khai thác các nguồn tài chính xanh - Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Xu thế toàn cầu và vị thế mới của Việt Nam

Theo Báo cáo Tình trạng Thị trường Carbon 2026 của Liên minh Hành động Carbon Quốc tế (ICAP), các hệ thống giao dịch phát thải (ETS) đang trở thành "hạ tầng" chính sách khí hậu then chốt trên toàn cầu. Hiện có 41 hệ thống ETS đang vận hành, bao phủ 26% lượng phát thải và các nền kinh tế sở hữu ETS đang chiếm tới 63% GDP toàn cầu. Năm 2026 đánh dấu bước ngoặt khi Việt Nam cùng với Nhật Bản và Ấn Độ dự kiến đưa hệ thống ETS quốc gia vào vận hành, cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ của công cụ định giá carbon sang các nền kinh tế mới nổi quy mô lớn.

Việc tham gia thị trường carbon không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc để doanh nghiệp Việt Nam duy trì lợi thế cạnh tranh. Nếu chần chừ, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sẽ đối mặt với gánh nặng chi phí từ các hàng rào kỹ thuật xanh quốc tế và nguy cơ bị gạt ra khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu. Ngược lại, thị trường carbon chính là "chìa khóa" để thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao và khai thác các nguồn tài chính xanh.

Để hiện thực hóa thị trường này, Chính phủ đã ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ, trọng tâm là Nghị định số 29/2026/NĐ-CP về Sàn giao dịch carbon trong nước và Quyết định số 263/QĐ-TTg phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải thí điểm cho giai đoạn 2025-2026.

Trong giai đoạn thí điểm từ nay đến năm 2028, "tấm vé" đầu tiên tham gia thị trường đã được trao cho 110 cơ sở phát thải lớn thuộc các lĩnh vực nhiệt điện, sản xuất sắt thép và xi măng theo Quyết định số 699/QĐ-BNNMT. Đây là những doanh nghiệp nòng cốt được phân bổ hạn ngạch phát thải dựa trên kết quả kiểm kê khí nhà kính, tạo tiền đề cho hoạt động giao dịch chính thức.

Theo PGS.TS Hoàng Văn Phụ, Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Kinh tế và Phát triển, "thị trường tín chỉ carbon chính là công cụ kinh tế quyết định khả năng thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính và ứng phó biến đổi khí hậu trong mô hình tăng trưởng xanh".

Bản chất của thị trường này là việc mua bán quyền phát thải khí CO₂ theo nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền". Cơ chế này giúp phân bổ hiệu quả nguồn lực, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch, đồng thời tạo dòng tài chính mới cho các hoạt động giảm phát thải.

Tín chỉ carbon rừng: Nguồn lực mới từ tháng 7/2026

Thị trường carbon Việt Nam vận hành dựa trên hai loại hàng hóa chính: hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon.

Về nguyên tắc tuân thủ, doanh nghiệp phải gói gọn lượng phát thải trong hạn ngạch được giao. Nếu phát thải vượt mức, doanh nghiệp có thể thực hiện các giải pháp:

Vay mượn hạn ngạch: Tối đa 15% từ giai đoạn kế tiếp để nộp trả cho giai đoạn hiện tại.

Bù trừ bằng tín chỉ: Sử dụng tín chỉ carbon để bù đắp lượng vượt hạn ngạch, nhưng không quá 30% tổng hạn ngạch được phân bổ.

Hệ thống giao dịch được thiết kế với sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành. Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý Hệ thống đăng ký quốc gia - được coi là "sổ cái" lưu trữ mọi dữ liệu về sở hữu, cấp mã số sê-ri cho hàng hóa carbon. Trong khi đó, Bộ Tài chính chủ trì giám sát hoạt động giao dịch, tận dụng hạ tầng sẵn có của thị trường chứng khoán để vận hành sàn giao dịch carbon thông qua Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội.

Đáng chú ý, trong giai đoạn thí điểm, cơ chế giao dịch thỏa thuận sẽ là phương thức chủ đạo. Theo đó, các bên tự tìm kiếm đối tác, đàm phán giá và khối lượng, sau đó đưa giao dịch lên sàn để xác nhận thanh toán. Cơ chế này giúp đảm bảo tính an toàn, minh bạch cho một thị trường mới sơ khai với thanh khoản chưa cao.

Một điểm nhấn quan trọng trong chiến lược tham gia thị trường carbon là việc khai thác tiềm năng từ rừng. Theo Nghị định 180/NĐ-CP, từ ngày 15/7/2026, doanh nghiệp sẽ chính thức được phép mua tín chỉ carbon rừng để bù trừ phát thải.

Đây là loại hình dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, cho phép các chủ rừng (từ tổ chức đến hộ gia đình, cộng đồng) tạo ra thu nhập từ việc bảo vệ và phát triển rừng. Việc chi trả có thể thực hiện trực tiếp giữa bên mua và bên bán hoặc gián tiếp thông qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng. Tín chỉ carbon rừng không chỉ giúp doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ tuân thủ mà còn là công cụ hữu hiệu cho các tổ chức có nhu cầu giảm phát thải tự nguyện.

TS. Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Chương trình chính sách thương mại lâm sản, Tổ chức Forest Trends (Mỹ), nhìn nhận, để tham gia thị trường hiệu quả, các chuyên gia khuyến cáo doanh nghiệp cần chủ động thực hiện lộ trình 3 bước. 

Thứ nhất là chuẩn hóa dữ liệu kiểm kê, việc phân bổ hạn ngạch phụ thuộc trực tiếp vào báo cáo kiểm kê khí nhà kính. Doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống dữ liệu phát thải chính xác, minh bạch để bảo vệ quyền lợi về hạn ngạch. 

Thứ hai là xây dựng đội ngũ chuyên trách, doanh nghiệp cần hiểu rõ quy trình đăng ký tài khoản trên Hệ thống đăng ký quốc gia, cách thức vận hành của sàn giao dịch và các quy định về lưu ký, thanh toán. 

Cuối cùng là tối ưu hóa nguồn lực, thay vì chỉ coi hạn ngạch là chi phí, doanh nghiệp nên nhìn nhận đây là tài sản. Đầu tư vào công nghệ giảm phát thải ngay từ bây giờ sẽ giúp doanh nghiệp thừa dư hạn ngạch để bán lại hoặc giảm thiểu nhu cầu mua tín chỉ bù trừ trong tương lai.

Đỗ Hương