Bài 2: Lấp đầy ‘khoảng trống’ để phát triển công nghiệp văn hóa bền vững
(Chinhphu.vn) - Để xây dựng nền công nghiệp văn hóa đúng nghĩa đòi hỏi một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa rộng lớn hơn rất nhiều, đặc biệt là nhân lực văn hóa. Chúng ta cần các nhà kinh tế văn hóa, sở hữu trí tuệ, chuyên gia phân phối sản phẩm, các nhà quản trị doanh nghiệp văn hóa, nhà ngoại giao văn hóa, cần có các trường đào tạo văn hóa quy chuẩn…

Đạo diễn Việt Tú tại trường quay của Báo Điện tử Chính phủ. Ảnh: VGP/Lan Anh
Dưới góc độ vừa là một nghệ sĩ vừa là một người nghiên cứu cũng như thực hành trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa từ rất sớm, đạo diễn Việt Tú tiếp mạch câu chuyện về phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên mới theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW khi ông chỉ rõ hiện chúng ta đang thiếu những mắt xích để tạo thành chuỗi sản phẩm của một nền công nghiệp văn hóa hoàn chỉnh từ ý tưởng, sản xuất đến phân phối…
"Khoảng trống" về nhân lực và quản trị văn hóa
Ngành công nghiệp văn hóa không thể phát triển nếu thiếu đội ngũ sáng tạo, thiếu nhà sản xuất, thiếu quản trị chuyên nghiệp… Như vậy, khoảng trống lớn nhất theo đạo diễn Việt Tú là nằm ở con người, ở hệ thống đào tạo và chuẩn hóa nguồn nhân lực.
"Chúng ta đang sử dụng nhân lực hầu như từ các ngành văn hóa truyền thống để làm công nghiệp văn hóa (từ đạo diễn sân khấu, tổ chức sự kiện, nghệ sĩ, nhà quản lý văn hóa). Nhưng một nền công nghiệp văn hóa đúng nghĩa đòi hỏi một hệ sinh thái nhân lực rộng lớn hơn rất nhiều", đạo diễn Việt Tú nói.
Chia sẻ câu chuyện của bản thân khi ông còn làm việc tại Đài Truyền hình Việt Nam vào năm 2003 và đang gặt hái nhiều thành công với tư cách đạo diễn, một người bạn đã nói với ông: "Nếu bạn muốn đi xa hơn, muốn quản lý và vận hành các dự án nghệ thuật quy mô lớn, bạn bắt buộc phải học về Quản trị nghệ thuật và Thương mại nghệ thuật." Lúc đó ở Việt Nam, khái niệm này còn khá mới mẻ.
Sau này, khoảng thời gian học tập và làm việc tại nước ngoài đã cho đạo diễn Việt Tú bài học căn bản: Muốn phát triển văn hóa bền vững cả về giá trị tinh thần lẫn vật chất, bắt buộc phải vận hành nó như một nền công nghiệp. Khi một sản phẩm nghệ thuật thành công về mặt thương mại sẽ tạo niềm tin để các nhà đầu tư tiếp tục tái đầu tư nhiều hơn, tạo ra những giá trị lớn hơn, tạo được những tác động xã hội mạnh mẽ hơn. Đó là những gì mà chúng ta hướng đến để phát triển công nghiệp văn hóa và phải coi nó là một ngành kinh tế thực thụ.
Để đi sau mà đón đầu, đạo diễn Việt Tú cho rằng, có thể học hỏi thêm từ các mô hình đào tạo bài bản, từ nền công nghiệp văn hóa phát triển như Mỹ, Hàn Quốc hay Trung Quốc để xây dựng các giáo trình ngắn hạn và trung hạn phù hợp cho Việt Nam, giúp đào tạo nguồn nhân lực văn hóa. Đồng thời, tận dụng việc các tổ chức, doanh nghiệp mời các chuyên gia hàng đầu thế giới về Việt Nam vận hành dự án để gửi nhân sự của chúng ta vào học hỏi kinh nghiệm.
Bên cạnh đó, việc thu hút đội ngũ chuyên gia gốc Việt có kinh nghiệm làm việc tại các tập đoàn giải trí lớn trên thế giới quay về cống hiến cũng là một giải pháp then chốt để nhanh chóng lấp đầy "khoảng trống" nhân lực chất lượng cao này.

Ngành công nghiệp văn hóa không thể phát triển nếu thiếu đội ngũ sáng tạo, thiếu nhà sản xuất, thiếu quản trị chuyên nghiệp…
Không coi ngân sách nhà nước là "bầu sữa bao cấp" cho sản phẩm văn hóa
Vận hành và phát triển một nền công nghiệp văn hóa đúng nghĩa thì sản phẩm văn hóa phải tự sống được trên thị trường. Đạo diễn Việt Tú cho rằng, đã là ngành công nghiệp thì sản phẩm phải tự tạo ra giá trị bền vững trên thị trường.
Dẫn chứng cho điều này, ông cho biết, nhìn ra thế giới, các tác phẩm như vở nhạc kịch The Phantom of the Opera có thể sáng đèn liên tục hơn 30 năm, hay các thương hiệu giải trí như Cirque du Soleil, các nhà hát tại Broadway hay West End đều có tuổi thọ hàng thập kỷ nhờ khả năng tự chủ tài chính.
Để làm được như vậy, theo đạo diễn Việt Tú cần phải thay đổi tư duy: Tuyệt đối không coi ngân sách nhà nước là "bầu sữa bao cấp" cho sản phẩm văn hóa. Vai trò đúng nghĩa của Nhà nước sẽ như "bà đỡ" thông qua việc hoạch định chiến lược và đầu tư để xây dựng hạ tầng đào tạo hoặc có các quỹ đầu tư mạo hiểm để hỗ trợ các dự án tiềm năng ở giai đoạn khởi nghiệp, chứ không phải "bao cấp" trực tiếp cho việc sản xuất từng sản phẩm cụ thể.
Bên cạnh đó, cần áp dụng cơ chế thị trường nghiêm ngặt. Điều đó có nghĩa là các dự án nhận hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước phải cam kết các chỉ số đo lường hiệu quả kinh tế - xã hội một cách rõ ràng.
"Nhiều người vẫn có tư duy nhà nước phải đầu tư thì mới làm được sản phẩm văn hóa, nhưng KPI trả lại là gì? Thực tế chứng minh chúng ta hoàn toàn có những đơn vị nghệ thuật công lập tự chủ thành công. Điển hình là Nhà hát Múa rối nước Thăng Long. Suốt hàng chục năm qua, họ liên tục đỏ đèn từ 4 đến 6 suất diễn mỗi ngày. Mô hình thứ hai là Nhà hát Tuổi trẻ thời kỳ hoàng kim với các vở kịch kinh điển luôn trong tình trạng khán giả phải xếp hàng "rồng rắn" mua vé. Gần đây, Nhà hát Kịch Hà Nội cũng thành công với vở nhạc kịch Chí Phèo", đạo diễn Việt Tú đưa ra ví dụ.
Tuy nhiên, ông cũng cho rằng nếu chỉ tư duy công nghiệp văn hóa là của riêng ngành văn hóa, của người làm văn hóa thì không ổn.
Mô hình hợp tác 3 nhà và bộ chỉ số đo lường kết quả
Đạo diễn Việt Tú cho biết, Trung Quốc có chính sách khuyến khích khối tư nhân làm văn hóa, họ có bộ chỉ số đo đếm kết quả rõ ràng, để những tác phẩm văn hóa trở nên uy tín và được du khách yêu quý thì họ hướng mọi nguồn lực để đầu tư cho sản phẩm đó nhằm thu hút du khách. Khối tư nhân phải "tự bơi", nhưng nếu Nhà nước không hỗ trợ bằng cơ chế chính sách liên ngành (như quy hoạch điện, đường, trường, trạm, hỗ trợ quảng bá điểm đến quốc gia…) mà doanh nghiệp tự xây dựng mọi thứ từ con số không, thì không một nguồn lực tư nhân nào gánh vác nổi. Việc bắt tay hợp tác công - tư hiệu quả chính là chìa khóa cho sự phát triển bền vững này.
Và chìa khóa ấy vẫn là mô hình hợp tác tối ưu giữa "3 Nhà" (Nhà nước - Doanh nghiệp - Nhà sáng tạo) nhằm giúp huy động toàn diện các nguồn lực xã hội mà chúng ta đang có. Trong đó Nhà nước giữ vai trò hoạch định chiến lược, tạo hành lang pháp lý thông thoáng, ưu đãi thuế và hỗ trợ "vốn mồi" cho đào tạo nguồn nhân lực cốt lõi.
Doanh nghiệp đầu tư vốn, năng lực quản trị dự án, hệ thống phân phối thương mại và thị trường...
Nhà sáng tạo (Nghệ sĩ, đạo diễn, nhà thiết kế…) đóng vai trò hạt nhân sáng tạo để tạo ra các tác phẩm có chiều sâu văn hóa và sức hấp dẫn nghệ thuật.
"Nếu không có đội ngũ sáng tạo bản địa làm chủ chốt, chúng ta sẽ rơi vào 'nhập siêu văn hóa'. Do đó, sự kết hợp đồng bộ này sẽ giúp chúng ta xây dựng được các sản phẩm có thương hiệu quốc gia và đủ sức tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Khi chúng ta có mô hình đúng và phù hợp sẽ đẩy nhanh tiến trình công nghiệp văn hóa", đạo diễn Việt Tú nói.

Nhiều chương trình văn hóa quy mô lớn, được tổ chức chuyên nghiệp thu hút đông đảo các thế hệ người xem.
Bên cạnh đó, chúng ta nói nhiều về công nghiệp văn hóa, nhưng thực tế có những sản phẩm vẫn được thực hiện theo tư duy tổ chức sự kiện lễ hội đơn lẻ, thiếu các bộ chỉ số đo lường thì sản phẩm đó chưa thể trở thành một sản phẩm của ngành kinh tế mũi nhọn.
Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra mô hình thành công tại Việt Nam là Lễ hội Pháo hoa Quốc tế Đà Nẵng (DIFF). DIFF đã trở thành một thương hiệu định hình điểm đến.
"Lịch trình lễ hội được công bố rất sớm từ trước cả năm, giúp các đơn vị lữ hành chủ động thiết kế tour tuyến, điều phối luồng khách đổ về Đà Nẵng trong cả mùa lễ hội. Đó là tư duy làm công nghiệp văn hóa", ông nói.
Theo đạo diễn Việt Tú, nếu chỉ làm sản phẩm văn hóa với tư cách là một người làm nghệ thuật đơn thuần mà thiếu tư duy thị trường thì rất khó lan tỏa các sản phẩm văn hóa đó. Không phải ngẫu nhiên mà du lịch Việt Nam có cụm từ kinh điển "cơm tối - rối nước". Rối nước là loại hình nghệ thuật truyền thống mà mọi lứa tuổi đều xem được, không cần phiên dịch, nội dung dễ hiểu trực quan, mang đậm bản sắc Việt Nam, giá vé rẻ. Bất kỳ sản phẩm nghệ thuật mới nào muốn cạnh tranh và tự sống được trên thị trường du lịch trước hết phải vượt qua được bài toán tối ưu chi phí.
Đạo diễn Việt Tú cũng bày tỏ e ngại, trên không gian số hiện nay, nếu chúng ta không có những sản phẩm văn hóa dân tộc đủ sức hấp dẫn thế hệ trẻ và các thế hệ đồng nghĩa chúng ta sẽ tự "bỏ trống trận địa" và để các sản phẩm văn hóa nước ngoài lấn át. Vì vậy, để phát triển công nghiệp văn hóa thì cần phải có quy hoạch cụ thể về tỉ lệ % tác phẩm, sản phẩm văn hóa nội địa.
Để những chủ trương, mục tiêu của Nghị quyết 80-NQ/TW sớm được chuyển hóa thành những sản phẩm, những dự án và hệ sinh thái công nghiệp văn hóa cụ thể rất cần sự phối hợp liên ngành đồng bộ không chỉ của riêng ngành văn hóa.
Trang Liên