Bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng và an ninh, an toàn mạng lưới bưu chính
(Chinhphu.vn) - Sáng nay (17/10), thảo luận tại tổ về dự án Luật Bưu chính (sửa đổi), một số đại biểu quan tâm góp ý cần thống nhất trách nhiệm của doanh nghiệp đối với khách hàng trong toàn bộ quá trình cung cấp dịch vụ và về cơ chế tài chính cho dịch vụ bưu chính công ích…

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng dự phiên thảo luận tại Tổ 3 Quốc hội khóa XVI - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Sau khi làm việc ở Hội trường, Quốc hội thảo luận tại Tổ cho ý kiến đối với: Dự án Luật Bưu chính (sửa đổi), Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường.
Tham dự thảo luận tại Tổ 3 (gồm các Đoàn Đại biểu Quốc hội: Hải Phòng, Hà Tĩnh, Lạng Sơn) có: Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Sỹ Thanh; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tham dự buổi thảo luận ở Tổ 3 Quốc hội khóa XVI
Cần có cơ chế tài chính rõ ràng cho dịch vụ bưu chính công ích
Góp ý đối với dự án Luật Bưu chính (sửa đổi), về xử lý vi phạm, dự thảo chuyển trạng thái từ tiền kiểm sang hậu kiểm, bãi bỏ giấy phép, tăng cường sự giám sát của cơ quan nhà nước, không thẩm định nội dung hồ sơ, Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cho rằng đây là một trong những nội dung có định hướng đúng. Tuy nhiên đại biểu cho rằng còn khoảng trống ở phần chế tài.
Theo Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn, Điều 44 quy định thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực bưu chính được thực hiện theo quy định pháp luật về thanh tra, kiểm tra và pháp luật về bưu chính. Nhưng toàn bộ dự thảo không có điều khoản nào về xử lý vi phạm, trong khi hồ sơ trình Quốc hội vẫn kèm theo dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định số 174/2026 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính. Do vậy Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn kiến nghị cần bổ sung điều về xử lý vi phạm và giao cho Chính phủ quy định chi tiết việc xử phạt này. Đồng thời bổ sung nguyên tắc về thẩm quyền, căn cứ và phương thức kiểm tra dựa trên dữ liệu quản lý rủi ro tại Điều 44.
Về cơ chế tài chính cho dịch vụ bưu chính công ích, Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn ghi nhận dự thảo đã bảo đảm nguồn lực cho dịch vụ KT1 tại khoản 2 Điều 11, dịch vụ phổ cập tại khoản 3 Điều 28 và dịch vụ công ích nói chung tại khoản 3 Điều 4. Tuy nhiên vẫn còn một khoảng trống về cấu trúc.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Hải Phòng) đóng góp ý kiến trong phiên thảo luận tại Tổ 3, Quốc hội khóa XVI Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Cụ thể, điều khoản nội dung chi ngân sách nhà nước cho hoạt động bưu chính đã được lược bỏ sau khi cơ quan thẩm tra chỉ ra mâu thuẫn với Luật Ngân sách. Hệ quả là hiện nay chưa có điều khoản nào đối với nhiệm vụ chi này. Về cơ chế đảm bảo nguồn lực cho dịch vụ tiếp nhận hồ sơ trả kết quả thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước tại điểm b khoản 1 Điều 28 hay là phát hành báo chí, báo, tạp chí công ích tại điểm đ, chủ yếu dựa vào các quy định chung. Trong khi điểm a khoản 2 Điều 29 vẫn buộc doanh nghiệp được chỉ định phải đảm bảo cung cấp liên tục toàn bộ dịch vụ công ích.
Đại biểu cũng cho biết, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ rõ điểm nghẽn của dự án này là chi phí đầu tư để duy trì mạng lưới rộng khắp 100% nhưng chưa có quy định về cơ chế đảm bảo nguồn tài chính để bù đắp và các doanh nghiệp bưu chính công ích hiện đang phải bù lỗ cho hoạt động này. Vì vậy cần phải làm rõ để doanh nghiệp có thể duy trì dịch vụ này ở cả vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo.
Do vậy Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn kiến nghị nghiên cứu khôi phục một điều quy định nguyên tắc về các nhóm nhiệm vụ chi cơ bản cho hoạt động bưu chính, đảm bảo thống nhất với Luật Ngân sách nhà nước và giao cho Chính phủ quy định chi tiết. Đồng thời, hoàn thiện phụ lục đánh giá tác động ngân sách, làm sao đảm bảo bao quát các dịch vụ công ích.
Cần thống nhất trách nhiệm của doanh nghiệp đối với khách hàng

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga hóp ý đối với Luật Bưu chính (sửa đổi) - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Góp ý đối với Luật Bưu chính (sửa đổi), Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng cần thống nhất trách nhiệm của doanh nghiệp đối với khách hàng trong toàn bộ quá trình cung cấp dịch vụ, kể cả khi có nhiều bên tham gia. Theo Đại biểu Nga, khoản 2 Điều 31 dự thảo quy định: Doanh nghiệp chịu trách nhiệm cuối cùng đối với người sử dụng dịch vụ theo hợp đồng đã ký kết. Khoản 3 Điều 11 và khoản 2 Điều 12 cũng đã đề cập tới trách nhiệm trong trường hợp doanh nghiệp thuê, hợp tác hoặc sử dụng thành phần mạng bưu chính do tổ chức, cá nhân khác cung cấp. Tuy nhiên khi đối chiếu giữa các điều khoản, Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng, cách phân định trách nhiệm chưa thật thống nhất. Điểm b khoản 2 của Điều 33 quy định doanh nghiệp không vận hành mạng chịu trách nhiệm về phần dịch vụ do mình thực hiện; trong khi đó Điều 10 dự thảo Nghị định lại quy định chi tiết, xác định doanh nghiệp vận hành mạng là đầu mối duy nhất chịu trách nhiệm trước pháp luật và người sử dụng về chất lượng dịch vụ, an toàn bưu gửi và thời gian toàn trình.
Nếu như không làm rõ các quy định này, khi có sự cố, doanh nghiệp giao kết hợp đồng có thể viện dẫn trách nhiệm của doanh nghiệp vận hành mạng, còn doanh nghiệp vận hành mạng lại viện dẫn phạm vi công việc và thỏa thuận với đối tác. Người sử dụng sẽ gặp khó khăn ngay từ việc xác định đúng nơi cần phải yêu cầu giải quyết.
Đại biểu đưa ví dụ, một người dân đặt dịch vụ trên ứng dụng của doanh nghiệp A, hàng được nhân viên tại điểm thu gom tiếp nhận sau đó chuyển qua mạng của doanh nghiệp B và giao bởi một đối tác khác. Nếu khi hàng bị mất hoặc bị tráo đổi thì khách hàng sẽ không thể biết sự cố xảy ra ở đâu, càng không có điều kiện tiếp cận các hợp đồng hợp tác giữa những doanh nghiệp này.
Vì vậy, theo đại biểu, người sử dụng cần có một đầu mối chịu trách nhiệm rõ ràng. Đại biểu đề nghị chỉnh lý thống nhất các Điều 11, 12, 31 và 33 theo nguyên tắc: Doanh nghiệp giao kết hợp đồng cung cấp dịch vụ với khách hàng có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết khiếu nại và thực hiện nghĩa vụ bồi thường trong phạm vi hợp đồng, kể cả khi thuê hoặc hợp tác với bên khác thực hiện một phần hay toàn bộ dịch vụ. Việc phân chia trách nhiệm, yêu cầu hoàn trả giữa các doanh nghiệp được giải quyết theo hợp đồng và pháp luật, nhưng không được làm trì hoãn việc giải quyết quyền lợi của khách hàng.
Đồng thời cũng cần quy định nghĩa vụ thể hiện rõ trên ứng dụng, vận đơn hoặc chứng từ điện tử: Tên doanh nghiệp giao kết hợp đồng, đầu mối tiếp nhận phản ánh và phương thức liên hệ. Khi đặt dịch vụ qua một nền tảng thì người dân cần biết mình đang giao kết với doanh nghiệp nào và ai chịu trách nhiệm chính với mình.
Đại biểu cũng đề nghị bổ sung vào Điều 35: Quyền được thông tin trước về chính sách kiểm tra hàng; quyền ghi nhận hiện trạng và phản ánh bất thường khi nhận. Với bưu gửi rách bao bì, có dấu hiệu thay đổi niêm phong hoặc thông tin không khớp thì cần có quy trình kiểm tra, lập bằng chứng và quy trình xử lý phù hợp.
Về khiếu nại khoản 1 Điều 46 hiện nay đã liệt kê các nội dung về chất lượng, về giá, về mất mát, hư hỏng hoặc là chậm, chậm trễ bưu gửi, Đại biểu đề nghị quy định bao quát hơn, cho phép người sử dụng khiếu nại đối với các hành vi vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp trong quá trình cung cấp dịch vụ. Bbên cạnh những trường hợp đã liệt kê ở trong dự thảo Luật còn có chậm hoàn trả tiền thu hộ, tiết lộ thông tin, từ chối cung cấp dịch vụ không có căn cứ hoặc xác nhận phát thành công không đúng thực tế. Nếu như chỉ liệt kê một số nhóm thì có thể dẫn đến cách hiểu hạn chế quyền khiếu nại đối với những vi phạm khác.

Đại biểu Vũ Văn Tiến (Hải Phòng) góp ý kiến tại buổi thảo luận ở Tổ 3 - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Chống lừa đảo thương mại điện tử, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Đóng góp ý kiến đối với dự án Luật Bưu chính (sửa đổi), về bảo đảm quyền thực hiện hoạt động bưu chính trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh, tình trạng khẩn cấp quy định tại Điều 7, theo đại biểu Vũ Văn Tiến, khoản Điều này quy định trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện điều phối, huy động mạng bưu chính nhằm bảo đảm thực hiện cung ứng và lưu thông thư, gói, kiện hàng hóa thiết yếu được thông suốt, kịp thời. Trong khi đó, theo khoản 2 Điều này, chỉ doanh nghiệp bưu chính vận hành mạng được bù đắp chi phí.
Đại biểu Vũ Văn Tiến cho rằng trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh, các đại lý bưu chính nhỏ hoặc doanh nghiệp bưu chính không vận hành mạng thường là lực lượng cơ động. Trong trường hợp được địa phương điều động tham gia chở hàng cứu trợ, các doanh nghiệp nhỏ này không được bù đắp chi phí từ ngân sách theo quy định tại khoản 2. Việc giới hạn đối tượng sẽ làm giảm khả năng ứng phó ở những địa bàn doanh nghiệp vận hành mạng không có lực lượng.
Do vậy, để bảo đảm quyền lợi của các doanh nghiệp, đề nghị nghiên cứu bổ sung đối tượng doanh nghiệp bưu chính vào khoản 1 Điều 7 để bao quát mọi doanh nghiệp bưu chính đều được thực hiện việc huy động trong trường hợp khẩn cấp.
Về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng dịch vụ bưu chính, Đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, bổ sung quy định cụ thể về quyền đồng kiểm khi nhận hàng để chống lừa đảo thương mại điện tử, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Theo quy định tại dự thảo luật, doanh nghiệp bưu chính đồng thời được thu tiền hàng và có nghĩa vụ đối soát, hoàn trả tiền thu hộ, tức người nhận phải thanh toán cho doanh nghiệp bưu chính trước khi biết nội dung bưu gửi. Khi không được kiểm tra, toàn bộ rủi ro đơn hàng, tráo hàng dồn về người tiêu dùng, nhất là người cao tuổi, người dân nông thôn. Trường hợp này đang xảy ra ở nhiều vùng quê, nhất là những nơi mà người dân còn chưa hiểu sâu về dịch vụ gửi, chuyển phát nhanh. Việc dự thảo luật trao cho doanh nghiệp quyền yêu cầu người gửi đồng kiểm nhưng không có quyền tương ứng cho người nhận thì chưa bảo đảm cân bằng lợi ích, bảo vệ người tiêu dùng.
Diệp Anh