• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Cần điều kiện gì để mẹ đơn thân được mua nhà ở xã hội?

(Chinhphu.vn) - Bà Thanh Hoa (Quảng Ninh) là mẹ đơn thân, đang nuôi 02 con đẻ (01 con dưới 18 tuổi, 01 con trên 18 tuổi). Bà hỏi, bà có được hưởng chính sách nhà ở xã hội hay không?

02/10/2026 12:06

Nếu được, bà Hoa có phải xét duyệt các điều kiện nào khác nữa không và xin xác nhận điều kiện ở cơ quan, đơn vị nào?

Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau:

Theo quy định của pháp lệnh hiện hành, để được mua, thuê mua, thuê nhà ở xã hội, công dân phải đáp ứng đúng đối tượng và điều kiện (nhà ở và thu nhập) quy định tại các Điều 76, Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023 và các Điều 29, Điều 30 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 261/2025/NĐ-CP ngày 10/10/2025 của Chính phủ và Nghị định số 54/2026/NĐ-CP ngày 09/02/2026 của Chính phủ, Nghị định số 136/2026/NĐ-CP ngày 08/4/2026 của Chính phủ).

Điều 76 Luật nhà ở năm 2023 quy định về các nhóm đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở như sau:

"1. Người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ thuộc trường hợp được hỗ trợ cải thiện nhà ở theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng.

2. Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn.

3. Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu.

4. Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị.

5. Người thu nhập thấp tại khu vực đô thị.

6. Công nhân, người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong và ngoài khu công nghiệp.

7. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân công an, công chức, công nhân và viên chức quốc phòng đang phục vụ tại ngũ; người làm công tác cơ yếu, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu hưởng lương từ ngân sách nhà nước đang công tác.

8. Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.

9. Đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ theo quy định tại khoản 4 Điều 125 của Luật này, trừ trường hợp bị thu hồi nhà ở công vụ do vi phạm quy định của Luật này.

10. Hộ gia đình, cá nhân thuộc trường hợp bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở.

11. Học sinh, sinh viên đại học, học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề, trường chuyên biệt theo quy định của pháp luật; học sinh trường dân tộc nội trú công lập.

12. Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong khu công nghiệp".

Điều kiện về nhà ở và thu nhập

Tại điểm a khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023 đã quy định:

"1. Đối tượng quy định tại các khoản 1, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 76 của Luật này mua, thuê mua nhà ở xã hội thì phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Điều kiện về nhà ở: đối tượng quy định tại các khoản 1, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 76 của Luật này để được mua, thuê mua nhà ở xã hội thì phải chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó, chưa được mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội, chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở dưới mọi hình thức tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó hoặc có nhà ở thuộc sở hữu của mình tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người thấp hơn mức diện tích nhà ở tối thiểu; trường hợp thuộc đối tượng quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và g khoản 1 Điều 45 của Luật này thì phải không đang ở nhà ở công vụ. Chính phủ quy định chi tiết điểm này;...".

Điều 29 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 của Chính phủ quy định chỉ tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 54/2026/NĐ-CP ngày 09/02/2026) quy định:

"Điều 29. Điều kiện về nhà ở

1. Trường hợp chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình được xác định khi đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật Nhà ở và vợ hoặc chồng của đối tượng đó (nếu có) được xác định là không có tên hoặc không có nội dung thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội đó.

Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy đề nghị xác nhận về điều kiện nhà ở, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội xác nhận theo quy định tại khoản này.

2. Trường hợp đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật Nhà ở có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người thấp hơn 15 m2 sàn/người. Diện tích nhà ở bình quân đầu người quy định tại khoản này được xác định trên cơ sở bao gồm: người đứng đơn, vợ (chồng) của người đó, cha, mẹ (nếu có) và các con của người đó (nếu có) đăng ký thường trú tại căn nhà đó.

Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xác nhận diện tích nhà ở bình quân đầu người, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc xác nhận đối với trường hợp quy định tại khoản này".

Điều 30 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 136/2026/NĐCP ngày 07/4/2026) quy định:

"Điều 30. Điều kiện về thu nhập

Đối với các đối tượng quy định tại các khoản 5, 6 và 8 Điều 76 của Luật Nhà ở thì phải đảm bảo điều kiện về thu nhập như sau:

a) Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân thì có thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 25 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.

Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên thì thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 35 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.

b) Trường hợp người đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 50 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận".

Sẽ làm rõ đối tượng hưởng chính sách nhà ở xã hội theo Luật Dân số

Tại khoản 3 Điều 29 Luật Dân số năm 2025 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026) sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản, điểm của Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, theo đó, đã bổ sung đối tượng "13. Người có từ 02 con đẻ trở lên" vào nhóm đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội (khoản 13 Điều 76 Luật Nhà ở), đồng thời sửa đổi, bổ sung nhóm đối tượng này tương ứng vào các quy định về hình thức, điều kiện, nguyên tắc thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội (tại Điều 77, Điều 78 và Điều 79 Luật Nhà ở).

Tại điểm d khoản 3 Điều 29 Luật Dân số năm 2025 quy định: "d) Thay thế cụm từ "các khoản 1, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 76" bằng cụm từ "các khoản 1, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 và 13 Điều 76" tại khoản 1 Điều 78".

Qua rà soát, Bộ Xây dựng nhận thấy việc sửa đổi, bổ sung các quy định nêu trên dẫn đến cách hiểu khác nhau, chưa thể hiện rõ đối tượng này có phải đáp ứng điều kiện về nhà ở và điều kiện về thu nhập để được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội hay không, dẫn đến việc sửa đổi, bổ sung Thông tư số 05/2024/TT-BXD về mẫu giấy tờ cho nhóm đối tượng này là chưa có cơ sở.

Hiện nay, Bộ Xây dựng đang phối hợp với Bộ Y tế rà soát các quy định nêu trên của Luật Dân số năm 2025 để bảo đảm tính đồng bộ trong việc áp dụng pháp luật và sẽ thông tin lại cho bà sau khi có ý kiến thống nhất.

Đề nghị bà nghiên cứu các quy định về đối tượng, điều kiện (về nhà ở và thu nhập) nêu trên, đối chiếu với trường hợp của mình để thực hiện.

Chinhphu.vn