• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/9/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/9/2026.

10/09/2026 18:30
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/9/2026- Ảnh 1.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu.

 

Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 349/2026/NĐ-CP ngày 9/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu.

Cụ thể, Nghị định số 349/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ngày 04/8/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 165/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 và Nghị định số 170/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026) và sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 32/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 của Chính phủ quy định giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 111/2025/NĐ-CP ngày 22/5/2025 và Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ngày 04/8/2025 của Chính phủ).

Bổ sung cơ chế loại trừ báo giá chênh lệch trên 30% so với giá trung bình

Nghị định số 349/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 2 Điều 18 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP quy định về căn cứ xác định giá gói thầu như sau:

"d) Tối thiểu 01 báo giá của hàng hóa, dịch vụ; khuyến khích thu thập nhiều hơn 01 báo giá. Chủ đầu tư phải đăng tải yêu cầu báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, đơn vị quan tâm phải gửi báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia trong thời hạn tối thiểu 03 ngày làm việc kể từ ngày đăng tải yêu cầu báo giá. Trường hợp có nhiều hơn 01 báo giá thì được lấy giá trung bình của các báo giá; khi xác định giá trung bình, trường hợp có báo giá hoặc hạng mục trong báo giá có giá cao hoặc thấp hơn 30% giá trung bình, chủ đầu tư có quyền loại trừ các báo giá này để xác định giá trung bình.

Đối với gói thầu mua thuốc; hóa chất, vật tư xét nghiệm, thiết bị y tế; linh kiện, phụ kiện, vật tư thay thế sử dụng cho thiết bị y tế: Trên cơ sở yêu cầu chuyên môn, chủ đầu tư quyết định các tiêu chí kỹ thuật và tổ chức lấy báo giá. Chủ đầu tư phải đăng tải yêu cầu báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia; khuyến khích đăng tải trên Cổng thông tin điện tử hoặc Trang thông tin điện tử của chủ đầu tư hoặc Cổng thông tin điện tử của Bộ Y tế hoặc Cổng dịch vụ công trực tuyến về quản lý thiết bị y tế; đơn vị quan tâm gửi báo giá trong thời hạn tối thiểu 10 ngày kể từ ngày đăng tải yêu cầu báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Trường hợp có từ 02 báo giá trở lên, chủ đầu tư được lựa chọn báo giá cao nhất phù hợp với khả năng tài chính và yêu cầu chuyên môn.

Chủ đầu tư chịu trách nhiệm thu thập báo giá bảo đảm công khai, minh bạch. Đơn vị cung cấp báo giá chịu trách nhiệm cung cấp thông tin về giá của hàng hóa, dịch vụ phù hợp với khả năng cung cấp của mình và phải bảo đảm việc cung cấp báo giá không vi phạm quy định của pháp luật về cạnh tranh, bán phá giá hoặc nâng khống giá.

Trường hợp chủ đầu tư đã tuân thủ đầy đủ quy định về tổ chức thu thập báo giá, bảo đảm công khai, minh bạch thì chủ đầu tư không phải chịu trách nhiệm đối với việc đơn vị cung cấp vi phạm quy định về cung cấp báo giá tại điểm này.".

Như vậy, quy định mới bắt buộc đăng tải yêu cầu báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia; thời gian nhận báo giá thông thường giảm từ 05 ngày xuống 03 ngày làm việc. Đồng thời, bổ sung cơ chế loại trừ báo giá/hạng mục chênh lệch trên 30% so với giá trung bình; bổ sung quy định bảo vệ trách nhiệm của chủ đầu tư nếu chủ đầu tư đã tuân thủ đầy đủ quy trình mà nhà cung cấp lại vi phạm quy định về báo giá.

Thêm một số trường hợp được chỉ định thầu

Nghị định số 349/2026/NĐ-CP bổ sung điểm e1 khoản 2 Điều 78 quy định về các trường hợp chỉ định thầu đối với gói thầu cần đẩy nhanh tiến độ, bảo đảm chất lượng, hiệu quả như sau:

"e1) Gói thầu đã đăng tải thông báo mời thầu, thông báo mời quan tâm, thông báo mời sơ tuyển nhưng xảy ra một trong các trường hợp sau đây: Không có nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu, hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển; tất cả hồ sơ dự thầu không đáp ứng hồ sơ mời thầu; tất cả nhà thầu không đáp ứng yêu cầu để thực hiện gói thầu.".

Nghị định số 349/2026/NĐ-CP cũng bổ sung điểm i, k khoản 5 Điều 78 quy định về các trường hợp chỉ định thầu đối với gói thầu có yêu cầu, điều kiện đặc thù về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật, công nghệ, thị trường cung ứng, gồm:

"i) Gói thầu mua sắm từ các hoạt động thanh lý, giải thể, phá sản;

k) Hàng hóa được mua thông qua giao dịch trên sàn giao dịch hàng hóa."

Tăng hạn mức chỉ định thầu

Đồng thời, Nghị định số 349/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 78 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP quy định về các trường hợp chỉ định thầu theo hướng nâng hạn mức áp dụng chỉ định thầu.

Cụ thể, áp dụng chỉ định thầu đối với gói thầu thuộc dự toán mua sắm không hình thành dự án có giá gói thầu không quá 01 tỷ đồng (hạn mức cũ là 500 triệu đồng); gói thầu dịch vụ tư vấn thuộc dự án có giá gói thầu không quá 03 tỷ đồng (hạn mức cũ là 800 triệu đồng); gói thầu dịch vụ phi tư vấn, hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp thuộc dự án có giá gói thầu không quá 03 tỷ đồng (hạn mức cũ là 02 tỷ đồng).

Nâng hạn mức mua sắm nhỏ

Bên cạnh đó, Nghị định số 349/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 80 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP theo hướng nâng hạn mức giá trị gói thầu hoặc nội dung mua sắm được cơ quan, đơn vị tự quyết định việc mua sắm từ không quá 50 triệu đồng lên không quá 100 triệu đồng nhằm đơn giản hóa thủ tục đối với các nhu cầu mua sắm thường xuyên, giá trị nhỏ; giảm thời gian, chi phí tổ chức lựa chọn nhà thầu.

Cụ thể, Nghị định 349/2026/NĐ-CP quy định: Đối với gói thầu hoặc nội dung mua sắm có giá không quá 100 triệu đồng (quy định cũ là 50 triệu đồng), Thủ trưởng cơ quan, đơn vị mua sắm chịu trách nhiệm quyết định việc mua sắm bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình, không phải đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 79 của Nghị định này, không phải thực hiện quy trình quy định tại khoản 3 Điều này nhưng phải bảo đảm chế độ hóa đơn, chứng từ đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc được thực hiện theo quy trình chỉ định thầu rút gọn quy định tại khoản 3 Điều này.

Xử lý một số tình huống trong đấu thầu

Nghị định số 349/2026/NĐ-CP cũng bổ sung thêm cách xử lý một số tình huống trong đấu thầu qua mạng và không qua mạng.

Cụ thể, Nghị định số 349/2026/NĐ-CP đã bổ sung khoản 33a và khoản 33b vào sau khoản 33 Điều 140 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP như sau:

"33a. Trường hợp gói thầu chỉ có một nhà thầu tham dự thầu và có hồ sơ dự thầu đáp ứng cơ bản yêu cầu của hồ sơ mời thầu nhưng không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật theo quy định của hồ sơ mời thầu đối với hạng mục hàng hóa là vật tư, thiết bị thông thường, thông dụng, sẵn có trên thị trường với tổng giá trị các hạng mục hàng hóa này trong giá gói thầu chiếm tỷ trọng không quá 1% giá gói thầu thì chủ đầu tư xem xét, quyết định cho phép nhà thầu bổ sung, thay thế các hàng hóa đó. Việc bổ sung, thay thế không được cao hơn đơn giá của hàng hóa đã chào.

33b. Trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất, trường hợp thời gian đánh giá bị kéo dài dẫn đến hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất của nhà thầu hết hiệu lực, chủ đầu tư được quyền yêu cầu nhà thầu khôi phục hiệu lực của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất, bảo đảm dự thầu tương ứng. Trường hợp nhà thầu không chấp thuận hoặc từ chối việc khôi phục hiệu lực của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất, bảo đảm dự thầu thì hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất của nhà thầu không được tiếp tục xem xét, đánh giá và không bị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật về đấu thầu.".

Nghị định số 349/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (9/9/2026).

Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 03/9/2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới, giai đoạn 2026 - 2030 và những năm tiếp theo

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1764/QĐ-TTg ngày 10/9/2026 ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 03/9/2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới, giai đoạn 2026 - 2030 và những năm tiếp theo (Kế hoạch).

Mục tiêu của Kế hoạch nhằm tiếp tục tổ chức nghiên cứu, quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, có hiệu quả Chỉ thị số 37-CT/TW, tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức và hành động của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền trong hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở, người lao động, người sử dụng lao động và tổ chức đại diện của các bên trong việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới; bảo đảm phù hợp với yêu cầu, bối cảnh mới và định hướng của Đảng về an ninh quốc gia, hội nhập quốc tế, đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.

Đồng thời, xác định nội dung, nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu, lộ trình phù hợp, đề cao tính chủ động của các bộ, cơ quan, tổ chức, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới trong giai đoạn 2026 - 2030 và từng thời kỳ.

Kế hoạch đưa ra 5 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm gồm:

1- Tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức, thúc đẩy xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ:

Các bộ, cơ quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động về những nhiệm vụ chủ yếu về xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới đối với toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc thẩm quyền quản lý.

2- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quan hệ lao động:

Để hoàn thiện hệ thống pháp luật về quan hệ lao động và tăng cường quản lý nhà nước về quan hệ lao động, Bộ Nội vụ chủ trì, xây dựng, trình Chính phủ và ban hành theo thẩm quyền văn bản sửa đổi, bổ sung các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động; tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn các bên trong quan hệ lao động thực hiện hiệu quả các quy định của pháp luật về lao động; tiếp tục nghiên cứu, rà soát, đề xuất hoàn thiện chính sách tiền lương đối với người lao động...

Nhằm thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động, Bộ Nội vụ xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn, nâng cao năng lực đối với đội ngũ công chức, viên chức, hòa giải viên lao động, trọng tài viên lao động và các chủ thể có liên quan để đáp ứng yêu cầu về quản lý nhà nước, hỗ trợ phát triển quan hệ lao động, quản lý tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp, giải quyết tranh chấp lao động, đình công.

Đồng thời, theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp luật lao động tại doanh nghiệp nhằm nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, phòng ngừa tranh chấp lao động, đình công và hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.

Bên cạnh đó, phối hợp với các bộ, cơ quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố nghiên cứu, xây dựng và từng bước kết nối, chia sẻ dữ liệu về lao động, quan hệ lao động; ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong theo dõi, phân tích, dự báo tình hình quan hệ lao động để phục vụ tốt cho công tác quản lý nhà nước và hỗ trợ các bên trong quan hệ lao động.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật lao động trong doanh nghiệp trên địa bàn; xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm pháp luật; thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình; kịp thời phối hợp, hỗ trợ giải quyết các vướng mắc, mâu thuẫn phát sinh trong quan hệ lao động, hạn chế tranh chấp kéo dài và các vụ việc phức tạp về quan hệ lao động...

3- Nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn:

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đổi mới phương thức và thúc đẩy việc tuyên truyền, tập hợp, vận động đoàn viên, người lao động, thu hút người lao động và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp tham gia vào hệ thống Công đoàn Việt Nam; đẩy mạnh phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở, trong đó ưu tiên những nơi có đông lao động, quan hệ lao động tiềm ẩn những vấn đề phức tạp; quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn, nhất là chủ tịch công đoàn cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Thực hiện có hiệu quả biện pháp hỗ trợ, bảo vệ đoàn viên, cán bộ công đoàn, tổ chức công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp theo quy định của pháp luật để tổ chức công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp thực sự vững mạnh nhất...

4- Thúc đẩy các hoạt động đối thoại, thương lượng tập thể:

Bộ Nội vụ tăng cường chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, cơ quan quản lý lao động tại địa phương tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho các bên trong quan hệ lao động; tăng cường các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật để các bên tham gia có hiệu quả vào các hoạt động đối thoại, thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, các tổ chức đại diện khác của người sử dụng lao động tăng cường các hoạt động hỗ trợ đối với doanh nghiệp để tham gia có hiệu quả các hoạt động đối thoại, thương lượng tập thể, ký kết thỏa ước lao động tập thể ở phạm vi doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp và cấp ngành để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ...

5- Giải quyết tốt tranh chấp lao động và đình công:

Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan hướng dẫn Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố rà soát, kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của thiết chế hòa giải lao động, trọng tài lao động để các thiết chế này tham gia tích cực, có hiệu quả trong việc giải quyết các tranh chấp lao động.

Bộ Công an kịp thời phát hiện và đấu tranh, ngăn chặn, xử lý những hành vi lợi dụng, lôi kéo, kích động, ép buộc người lao động gây rối an ninh, trật tự.

Đối với các tỉnh, thành phố có đông lao động, doanh nghiệp, khu công nghiệp thuộc các vùng kinh tế trọng điểm, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh nhiều tranh chấp lao động chủ động xây dựng, tổ chức thực hiện thí điểm mô hình giải quyết tranh chấp lao động với việc bố trí một số hòa giải viên lao động, trọng tài viên lao động chuyên trách theo hướng hòa giải viên lao động, trọng tài viên lao động vừa thực hiện giải quyết tranh chấp lao động, vừa hỗ trợ phát triển quan hệ lao động.../.