Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 14/8/2026
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 14/8/2026.

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm trong cơ sở giáo dục
Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 14/8/2026 về tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm trong cơ sở giáo dục.
Chỉ thị nêu: Thời gian qua, công tác bảo đảm an toàn thực phẩm (ATTP) trong cơ sở giáo dục đã được các bộ, ngành, địa phương, cơ sở giáo dục quan tâm thực hiện và đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, còn nhiều vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra trong các cơ sở giáo dục, tác động tiêu cực sức khoẻ, tâm lý học sinh, sinh viên, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động giáo dục. Nguyên nhân chủ yếu là do việc tổ chức bảo đảm an toàn thực phẩm của một số cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý liên quan chưa thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, thiếu kiểm tra, giám sát thường xuyên; nhiều trường hợp sử dụng thực phẩm, nguyên liệu thực phẩm kém chất lượng, không rõ nguồn gốc xuất xứ dẫn đến không bảo đảm an toàn, gây ngộ độc thực phẩm; công tác phát hiện, xử lý vi phạm liên quan đến ATTP trong cơ sở giáo dục chưa được chú trọng, chưa có nhiều vụ việc mang tính cảnh tỉnh, răn đe; chưa thực sự đề cao trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, đơn vị liên quan trong triển khai thực hiện.
Để khẩn trương chấn chỉnh tình trạng nêu trên, khắc phục những hạn chế, bất cập, bảo đảm an toàn trường học, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của trẻ em, học sinh, sinh viên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan liên quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp bảo đảm ATTP trong cơ sở giáo dục.
Tăng cường kiểm tra đột xuất bếp ăn của trường học
Trong đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Y tế trong quý III năm 2026, rà soát, hoàn thiện các quy định về phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý ATTP đối với cơ sở giáo dục, nhất là quy định về bảo đảm an toàn thực phẩm đối với các hoạt động, dịch vụ cung cấp thực phẩm, suất ăn cho cơ sở giáo dục, tổ chức và hoạt động nhà ăn, bếp ăn tập thể, căng-tin có cung cấp dịch vụ ăn uống trong cơ sở giáo dục theo phương châm "rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả", chấm dứt tình trạng chồng chéo hoặc đùn đẩy trách nhiệm giữa các cấp; nghiên cứu đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung chế tài xử lý vi phạm đối với người đứng đầu cơ quan quản lý y tế địa phương, người đứng đầu cơ sở giáo dục thiếu trách nhiệm, vi phạm quy định, để xảy ra ngộ độc thực phẩm thuộc phạm vi quản lý.
Đồng thời, chỉ đạo tăng cường kiểm tra định kỳ và đột xuất các điều kiện bảo đảm ATTP tại bếp ăn tập thể, căng tin trường học và các cơ sở cung cấp thực phẩm, suất ăn cho cơ sở giáo dục. Hằng năm tổ chức Đoàn kiểm tra của Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về an toàn thực phẩm trong cơ sở giáo dục tại một số tỉnh, thành phố. Kiên quyết đình chỉ hoạt động, thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP và xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm theo quy định.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về điều kiện, quy trình tổ chức bữa ăn nội trú, bán trú trong cơ sở giáo dục, trong đó tăng cường trách nhiệm, chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân các cấp (hoàn thành trong quý IV năm 2026); cập nhật nội dung và hướng dẫn, tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên về công tác vệ sinh, ATTP, bảo đảm dinh dưỡng hợp lý đối với bữa ăn học đường. Tăng cường công tác truyền thông, giáo dục cho người học các kiến thức về ATTP, kỹ năng lựa chọn và sử dụng thực phẩm an toàn, có lợi cho sức khỏe (hoàn thành cập nhật nội dung trong quý IV năm 2026 và triển khai thực hiện hằng năm).
Kiểm soát chặt chẽ chất lượng, nguồn gốc thực phẩm cung cấp cho cơ sở giáo dục
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo đơn vị chức năng kiểm soát chặt chẽ chất lượng, nguồn gốc nông sản, thực phẩm cung cấp cho cơ sở giáo dục; phối hợp với chính quyền địa phương xây dựng chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ thực phẩm an toàn cho trường học, bảo đảm việc truy xuất nguồn gốc; phối hợp giám sát nhằm bảo đảm không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kháng sinh, hoá chất độc hại trong thực phẩm vượt giới hạn cho phép theo quy định, cung cấp cho cơ sở giáo dục.
Bộ Công Thương chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị chức năng, Sở Công Thương và lực lượng Quản lý thị trường địa phương, theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức kiểm tra, giám sát thị trường, chủ động ngăn chặn, xử lý triệt để, nghiêm minh các hành vi kinh doanh thực phẩm giả, thực phẩm nhập lậu, thực phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ, thực phẩm không đảm bảo an toàn, phối hợp phát triển mạng lưới, chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn, chất lượng, đảm bảo minh bạch thông tin về nguồn gốc và giá thực phẩm đưa vào trường học trên địa bàn, hoàn thành trong quý III năm 2026.
Xây dựng đường dây nóng tiếp nhận, xử lý tố giác
Bộ Công an chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ tổng rà soát, đấu tranh, xử lý tội phạm và vi phạm pháp luật về ATTP; hành vi thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý ATTP gây hậu quả nghiêm trọng, "cắt xén" khẩu phần, suất ăn học đường. Đấu tranh, xử lý một số vụ việc mang tính "cảnh tỉnh" răn đe; tiếp tục tập trung công tác điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc về ATTP và liên quan đến ATTP thuộc diện chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong việc tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thông qua xây dựng hệ thống đường dây nóng, Zalo OA an ninh, ứng dụng VNelD.
Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tăng cường chỉ đạo, giám sát việc thực hiện công tác bảo đảm ATTP trong cơ sở giáo dục; căn cứ đặc điểm tình hình địa phương, ban hành văn bản chỉ đạo toàn diện về công tác bảo đảm ATTP trong cơ sở giáo dục, phân công rõ nhiệm vụ của các sở, ngành, Ủy ban nhân dân cấp xã; cá thể hóa trách nhiệm của lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu các cơ quan trong quản lý ATTP tại các cơ sở giáo dục (hoàn thành trong tháng 9 năm 2026).
Chỉ đạo Sở Y tế, Sở ATTP (đối với Thành phố Hồ Chí Minh) chủ trì, phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo và các sở, ngành liên quan: (i) chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở giáo dục trên địa bàn, thường xuyên giám sát việc thực hiện quy trình cung cấp thực phẩm, bảo đảm giám sát chặt chẽ từ khâu lựa chọn nguyên liệu đầu vào, đến quá trình sơ chế, bảo quản, chế biến, cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục; (ii) rà soát toàn bộ bếp ăn tập thể, căng tin trường học của các cơ sở giáo dục trên địa bàn, đánh giá toàn diện về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị, báo cáo Ủy ban nhân dân địa phương bố trí nhân lực, kinh phí phục vụ hoạt động chế biến, cung cấp suất ăn bảo đảm vệ sinh, ATTP (hoàn thành trong tháng 9 năm 2026); (iii) lập danh sách, kiểm tra, đánh giá năng lực, điều kiện bảo đảm của các cơ sở kinh doanh cung cấp thực phẩm, suất ăn cho các cơ sở giáo dục, yêu cầu các cơ sở cam kết chấp hành nghiêm pháp luật về ATTP; thực hiện số hóa, kết nối, công khai mạng lưới, đơn vị cung cấp thực phẩm an toàn, nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, minh bạch thông tin chất lượng và giá cả theo quy định của pháp luật. Kiên quyết dừng hợp đồng đối với các cơ sở chế biến, cung cấp suất ăn, nguyên liệu thực phẩm cho cơ sở giáo dục không bảo đảm vệ sinh ATTP (hoàn thành trong tháng 9 năm 2026 và kiểm tra, đánh giá định kỳ hằng tháng, đột xuất).
Công khai hình ảnh khay ăn thực tế của học sinh để phụ huynh giám sát
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ sở giáo dục trên địa bàn phân công lãnh đạo, nhân viên y tế trường học trực tiếp giám sát, kiểm soát chặt chẽ toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm, suất ăn đưa vào trường học theo quy trình, hướng dẫn của Bộ Y tế, bảo đảm chất lượng bữa ăn, đúng thực đơn, đủ định lượng dinh dưỡng theo tiêu chuẩn. Tổ chức tiếp nhận và xử lý phản ánh của phụ huynh học sinh trong vòng 24 giờ.
Các cơ sở giáo dục phải thực hiện minh bạch, công khai thông tin hàng ngày với phụ huynh học sinh (qua bảng tin, website, ứng dụng công nghệ, nhóm liên lạc trực tuyến) về đơn vị cung cấp suất ăn, nguyên liệu, hình ảnh thực phẩm, hóa đơn nhập hàng, thực đơn và hình ảnh khay ăn thực tế của học sinh để phụ huynh có cơ sở theo dõi, giám sát.
Tạo điều kiện và cơ chế để Ban đại diện cha mẹ học sinh trong các cơ sở giáo dục tham gia giám sát nguồn thực phẩm, quá trình chia suất ăn, tham gia kiểm chứng và đánh giá chất lượng bữa ăn cùng giáo viên, học sinh; tiến hành test nhanh (nếu có đủ điều kiện) đối với các nhóm nguyên liệu, thực phẩm nguy cơ cao và kiểm tra khu vực chế biến. Đối với trường hợp sử dụng suất ăn từ bên ngoài, Ban đại diện cha mẹ học sinh có thể đề nghị người đứng đầu cơ sở giáo dục chủ trì tổ chức các đoàn kiểm tra trực tiếp tại nơi chế biến của đơn vị cung cấp...

Thông qua 5 chính sách của Luật về văn bản quy phạm pháp luật
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 227/NQ-CP ngày 13/8/2026 thông qua 5 chính sách của Luật về văn bản quy phạm pháp luật.
Chính phủ thông qua 5 chính sách của Luật về văn bản quy phạm pháp luật nêu tại Tờ trình số 130/TTr-BTP ngày 24/7/2026 của Bộ Tư pháp, đã được tiếp thu, giải trình ý kiến Thành viên Chính phủ theo Báo cáo số 672/BC- BTP ngày 07/8/2026 và Báo cáo số 684/BC-BTP ngày 11/8/2026, cụ thể như sau:
Chính sách 1: Tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Chính sách 2: Tiếp tục xác định rõ thẩm quyền về nội dung ban hành văn bản quy phạm pháp luật của từng chủ thể, phạm vi nội dung giữa luật với văn bản quy phạm pháp luật khác, các nội dung cần được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật.
Chính sách 3: Tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo hướng linh hoạt, kịp thời, hiệu quả và có kiểm soát, đẩy nhanh việc thể chế hóa chủ trương, định hướng của Đảng thành pháp luật.
Chính sách 4: Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, hoàn thiện cơ chế giải thích Hiến pháp, luật, hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật và xây dựng cơ chế đánh giá văn bản quy phạm pháp luật sau ban hành.
Chính sách 5: Xây dựng cơ chế nâng cao chất lượng đội ngũ người làm công tác tham mưu xây dựng chính sách, pháp luật; tăng cường tính chuyên nghiệp trong công tác soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật.
Nghiên cứu xây dựng một hồ sơ lập pháp điện tử thống nhất
Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tiếp tục rà soát, đánh giá kỹ tác động của chính sách để bảo đảm tính khả thi, thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và hoàn thiện nội dung của các chính sách, trong đó, tập trung nghiên cứu đổi mới quy trình xây dựng luật theo hướng nâng cao thực chất chất lượng chính sách và dự thảo văn bản, bảo đảm liên thông giữa quy trình chính sách với quy trình soạn thảo, không làm phát sinh thêm tầng nấc, thủ tục, hồ sơ trùng lặp; làm rõ hơn trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan chủ trì về chất lượng chính sách; đẩy mạnh số hóa, ứng dụng hiệu quả trí tuệ nhân tạo trong quy trình xây dựng chính sách và soạn thảo văn bản; nghiên cứu xây dựng một hồ sơ lập pháp điện tử thống nhất.
Bộ Tư pháp khẩn trương tổ chức xây dựng dự án Luật về văn bản quy phạm pháp luật theo quy định, trình Chính phủ trong tháng 8 năm 2026 để bảo đảm tiến độ Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chính phủ phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu chỉ đạo việc xây dựng, hoàn thiện dự án Luật về văn bản quy phạm pháp luật.

Thông qua Báo cáo tiếp thu, giải trình dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi)
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 231/NQ-CP ngày 14/8/2026 về việc tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi).
Cụ thể, Chính phủ quyết nghị thông qua Báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) theo đề nghị của Bộ Tư pháp tại Báo cáo số 685/BC-BTP ngày 12/8/2026. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm về nội dung giải trình, tiếp thu và chỉnh lý dự thảo Luật Hoà giải ở cơ sở (sửa đổi).
Bộ trưởng Bộ Tư pháp tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến Thành viên Chính phủ, hoàn thiện hồ sơ dự án Luật theo quy định. Trên cơ sở đó, giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý hồ sơ dự án Luật; chủ động báo cáo, giải trình về nội dung hồ sơ dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội theo quy định.

Chính phủ phê duyệt Thỏa thuận thực hiện theo Điều 6 Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 235/NQ-CP phê duyệt Thỏa thuận thực hiện theo Điều 6 Thỏa thuận Paris giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Singapore (Thỏa thuận).
Chính phủ giao Bộ Ngoại giao thực hiện các thủ tục đối ngoại về phê duyệt Thỏa thuận và thông báo hiệu lực Thỏa thuận theo quy định.

Quy định chi tiết một số điều của Luật Phục hồi, phá sản về các trường hợp không áp dụng đối với hợp đồng phái sinh có điều khoản về thanh toán ròng
Chính phủ ban hành Nghị định 318/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phục hồi, phá sản về các trường hợp không áp dụng đối với hợp đồng phái sinh có điều khoản về thanh toán ròng.
Nghị định 318/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phục hồi, phá sản về các trường hợp không áp dụng đối với hợp đồng phái sinh lãi suất có điều khoản về thanh toán ròng, bao gồm:
- Khoản 2 Điều 27 và khoản 3 Điều 40 về trường hợp không tạm dừng việc xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã đối với chủ nợ có bảo đảm.
- Điểm c khoản 1 Điều 49 về trường hợp thanh toán hoặc bù trừ không bị coi là vô hiệu.
- Khoản 1 và khoản 5 Điều 51 về trường hợp không tạm đình chỉ, đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực.
- Khoản 1 Điều 53 về trường hợp không phải báo cáo Thẩm phán trước khi thực hiện bù trừ nghĩa vụ.
Trường hợp không tạm dừng việc xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã đối với chủ nợ có bảo đảm
Nghị định quy định trường hợp không tạm dừng việc xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã đối với chủ nợ có bảo đảm theo quy định tại khoản 2 Điều 27 và khoản 3 Điều 40 Luật Phục hồi, phá sản như sau:
Việc xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã đối với chủ nợ có bảo đảm trong hợp đồng phái sinh lãi suất có điều khoản về thanh toán ròng không bị tạm dừng trong trường hợp Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi, phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã.
Theo yêu cầu của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, Thẩm phán, chủ nợ có bảo đảm có trách nhiệm cung cấp các thông tin liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã:
a) Lý do không tạm dừng xử lý tài sản bảo đảm;
b) Tài sản bảo đảm đang được xử lý;
c) Thời gian bắt đầu xử lý tài sản bảo đảm;
d) Địa điểm xử lý tài sản bảo đảm.
Trường hợp thanh toán hoặc bù trừ không bị coi là vô hiệu
Trường hợp thanh toán hoặc bù trừ không bị coi là vô hiệu theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 49 Luật Phục hồi, phá sản được quy định cụ thể như sau:
Việc thanh toán hoặc bù trừ trên cơ sở hợp đồng phái sinh lãi suất có điều khoản về thanh toán ròng được thực hiện trong thời gian 06 tháng trước ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản không bị coi là vô hiệu.
Theo yêu cầu của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, Thẩm phán, các bên trong hợp đồng phái sinh lãi suất có điều khoản về thanh toán ròng có trách nhiệm cung cấp các thông tin liên quan đến việc thanh toán hoặc bù trừ quy định ở trên:
a) Điều khoản về thanh toán ròng;
b) Thời điểm thực hiện thanh toán hoặc bù trừ;
c) Các tài liệu, dữ liệu liên quan đến việc thực hiện thanh toán hoặc bù trừ.
Trường hợp không tạm đình chỉ, đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực
Đối với trường hợp không tạm đình chỉ, đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực theo quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 51 Luật Phục hồi, phá sản, Nghị định quy định:
Hợp đồng phái sinh lãi suất có điều khoản về thanh toán ròng đang có hiệu lực tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản hoặc tại thời điểm Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản không bị tạm đình chỉ, không bị đình chỉ theo quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 51 Luật Phục hồi, phá sản.
Theo yêu cầu của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, Thẩm phán, các bên trong hợp đồng phái sinh lãi suất có điều khoản về thanh toán ròng có trách nhiệm cung cấp các thông tin:
a) Điều khoản về thanh toán ròng;
b) Các tài liệu, dữ liệu chứng minh các hợp đồng phái sinh lãi suất đang có hiệu lực.
Trường hợp không phải báo cáo Thẩm phán trước khi thực hiện bù trừ nghĩa vụ
Trường hợp không phải báo cáo Thẩm phán trước khi thực hiện bù trừ nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Luật Phục hồi, phá sản, Nghị định quy định:
Sau khi Tòa án có quyết định mở thủ tục phá sản, đối với hợp đồng phái sinh lãi suất có điều khoản về thanh toán ròng được xác lập trước thời điểm đó, việc bù trừ nghĩa vụ được thực hiện theo thỏa thuận của các bên khi xảy ra sự kiện phá sản, bao gồm việc chấm dứt toàn bộ các hợp đồng phái sinh lãi suất giữa một bên với cùng một đối tác, xác định và bù trừ các khoản tiền phải trả của các bên theo các hợp đồng phái sinh lãi suất đó để xác định một giá trị chênh lệch duy nhất về tài sản của một bên đối với bên còn lại. Việc bù trừ nghĩa vụ này không phải báo cáo Thẩm phán cho ý kiến trước khi thực hiện.
Việc bù trừ nghĩa vụ quy định ở trên chỉ nhằm xác định giá trị tài sản chênh lệch của các bên. Việc thanh toán phần giá trị tài sản chênh lệch này được thực hiện theo quy định của pháp luật về phục hồi, phá sản.
Theo yêu cầu của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, Thẩm phán, các bên trong hợp đồng phái sinh lãi suất có điều khoản về thanh toán ròng có trách nhiệm cung cấp các thông tin liên quan đến việc bù trừ nghĩa vụ:
a) Các hợp đồng phái sinh lãi suất có điều khoản về thanh toán ròng có nội dung thỏa thuận khi xảy ra sự kiện phá sản là cơ sở để thực hiện bù trừ nghĩa vụ;
b) Cách thức, phương pháp tính toán để xác định giá trị tài sản chênh lệch ròng.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 12/8/2026./.