Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Chính phủ ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2026.
Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh đồng bộ, toàn diện trên mọi lĩnh vực
Nghị quyết khẳng định: Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh đồng bộ, toàn diện trên mọi lĩnh vực, từ cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính, phát triển nền tảng số, đến tăng cường năng lực thực thi, tạo nền tảng cho các thành phần kinh tế cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; tiếp cận công bằng, công khai, minh bạch các nguồn lực, thị trường và cơ hội phát triển; thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất mới, trọng tâm phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, xây dựng xã hội số, thân thiện với môi trường sinh thái.
Kiên quyết chuyển đổi tư duy trong công tác xây dựng pháp luật từ "quản lý" sang "kiến tạo, phát triển", lấy người dân, doanh nghiệp là đối tượng phục vụ; nâng cao chất lượng xây dựng, tham mưu, ban hành văn bản pháp luật, sửa đổi đồng bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để tháo gỡ triệt để các "điểm nghẽn", khuyến khích doanh nghiệp phát triển trong các lĩnh vực ưu tiên, bảo đảm nguyên tắc doanh nghiệp được làm những gì luật pháp không cấm, khuyến khích và bảo vệ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, minh bạch và bảo vệ quyền kinh doanh, quyền tài sản của doanh nghiệp; mạnh dạn đề xuất, ban hành các cơ chế, chính sách đột phá nhằm khơi thông mọi nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi nhất để phát triển các doanh nghiệp Việt Nam, đưa thể chế từ "điểm nghẽn của điểm nghẽn" thành "lợi thế cạnh tranh quốc gia" và động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước.
Đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện phân cấp, phân quyền triệt để gắn liền với cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ; tăng cường công khai, minh bạch, nâng cao tính tự chủ và đề cao trách nhiệm giải trình nhằm phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đặc biệt, chuyển mạnh mẽ từ tư duy "quản lý" sang "kiến tạo và phục vụ", thay thế phương thức "tiền kiểm" bằng "hậu kiểm" dựa trên hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn rõ ràng. Đồng thời bảo đảm phân công, phân cấp, phân nhiệm rõ ràng giữa các cấp, các ngành và trong từng cơ quan, đơn vị, theo tiêu chí "6 rõ": rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền, nhằm đạt được mục tiêu "3 dễ": dễ triển khai thực hiện, dễ kiểm tra, dễ đánh giá...
Cải thiện mạnh mẽ chất lượng môi trường đầu tư, kinh doanh
Mục tiêu Nghị quyết đưa ra là tiếp tục cải thiện mạnh mẽ chất lượng môi trường đầu tư, kinh doanh phù hợp với bối cảnh trong nước và xu thế phát triển nhằm nâng cao vị thế của nước ta trên các bảng xếp hạng quốc tế; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh cạnh tranh lành mạnh, bảo đảm công khai, minh bạch, ổn định, giảm chi phí tuân thủ, phù hợp với thông lệ quốc tế tốt, khuyến khích đổi mới, sáng tạo, giải phóng sức sản xuất, huy động mọi nguồn lực và tạo động lực mới cho phát triển.
Trong đó, tập trung hoàn thành các nhiệm vụ, giải pháp đã được giao tại các văn bản, Nghị quyết đột phá của Đảng và Nhà nước trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, đổi mới xây dựng, thi hành pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
Phấn đấu trong năm 2026, thứ hạng năng lực cạnh tranh theo khung đánh giá của quốc tế như sau:
- Phát triển bền vững (SDG) của Liên hợp quốc (UN) phấn đấu thuộc Nhóm 50 nước đứng đầu.
- Quyền tài sản (IPRI) của Liên minh Quyền tài sản (PRA) tăng ít nhất 3 bậc so với kỳ xếp hạng trước.
- Năng lực Đổi mới sáng tạo (GII) của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) tăng ít nhất 1 bậc so với kỳ xếp hạng trước.
- Phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) của UN tăng ít nhất 2 bậc so với kỳ xếp hạng trước.
- An toàn thông tin mạng (GCI) của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) duy trì trong nhóm các quốc gia Bậc 1.
- Hiệu quả logistics (LPI) của Ngân hàng thế giới (WB) tăng ít nhất 4 bậc so với kỳ xếp hạng trước.
- Năng lực phát triển du lịch (TTDI) của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) tăng ít nhất 4 bậc so với kỳ xếp hạng trước.
Tăng nhanh số lượng doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường
Đồng thời, cải thiện các chỉ số phản ánh cảm nhận của người dân, doanh nghiệp đối với hoạt động của chính quyền các cấp liên quan đến môi trường đầu tư kinh doanh trong nước như sau:
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI): Chỉ số PCI trung vị toàn quốc tăng 01 điểm.
Chỉ số cải cách hành chính (PAR index): Chỉ số cải cách hành chính của các bộ, cơ quan ngang bộ bình quân của cả nước đạt 84,7%; chỉ số cải cách hành chính của các tỉnh, thành phố bình quân cả nước đạt 88,87%.
Chỉ số sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS): Giá trị trung bình cả nước đạt 86%.
Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường và tái gia nhập thị trường; giảm tỷ lệ doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường (tạm ngừng hoạt động hoặc phá sản, giải thể). Số doanh nghiệp gia nhập thị trường và tái gia nhập thị trường năm 2026 tăng khoảng 15-20% so với năm 2025; số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường năm 2026 tăng khoảng 10% so với năm 2025.
Phấn đấu Việt Nam phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045
Để đạt được các mục tiêu, Nghị quyết đưa ra 4 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:
1- Triển khai một cách sâu sắc, toàn diện, quyết liệt những trụ cột thể chế nền tảng: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24 tháng 01 năm 2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo và Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 30 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới; Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06 tháng 01 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước. Việc thực hiện đồng bộ các quyết sách này nhằm tạo động lực mạnh mẽ đưa đất nước ta tiến lên trong kỷ nguyên mới, hiện thực hóa tầm nhìn Việt Nam phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
2- Tiếp tục triển khai quyết liệt, hiệu quả các chỉ đạo về sắp xếp tổ chức bộ máy, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; chủ động khắc phục hạn chế, vướng mắc trong vận hành chính quyền cấp xã.
3- Tăng cường trách nhiệm, tính chủ động, kịp thời của các bộ, cơ quan được phân công làm đầu mối theo dõi việc cải thiện các bộ chỉ số quốc tế.
4- Thực hiện đầy đủ, nhất quán và hiệu quả các nhóm nhiệm vụ, giải pháp và các chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết này để đạt được mục tiêu, chỉ tiêu về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2026; trong đó chú trọng thực hiện các nhóm giải pháp trọng tâm sau đây:
- Đẩy mạnh hoàn thiện đồng bộ các quy định pháp luật để xây dựng giải pháp đột phá về thể chế, cơ chế chính sách; tháo gỡ dứt điểm các bất cập, điểm nghẽn về pháp lý. Đổi mới tư duy xây dựng và tổ chức thực thi pháp luật bảo đảm nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sử dụng các công cụ thị trường để điều tiết nền kinh tế.
- Tiếp tục rà soát và nâng cao chất lượng danh mục ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện. Cắt giảm và chuẩn hóa các điều kiện kinh doanh đảm bảo tính hợp lý, minh bạch theo hướng chuyển việc quản lý điều kiện kinh doanh từ cấp phép, chứng nhận sang thực hiện công bố điều kiện kinh doanh và hậu kiểm.
- Cải cách quy định thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp. Trong đó, bên cạnh các chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, các bộ, ngành, địa phương cần tập trung nguồn lực đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính để tháo gỡ các rào cản, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước theo Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 và Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06 tháng 01 năm 2026 của Bộ Chính trị. Đổi mới toàn diện việc thực hiện thủ tục hành chính chuyển từ "bị động" sang "chủ động phục vụ", không phụ thuộc vào địa giới hành chính và hoàn toàn dựa trên dữ liệu; tăng cường chỉ đạo điều hành, giám sát đánh giá chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp tại các bộ, ngành, địa phương trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công theo thời gian thực dựa trên dữ liệu và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong phục vụ nhân dân.
- Ưu tiên khơi thông nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp tiếp cận vốn, đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh và nguồn nhân lực chất lượng cao.
- Hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân trong nước và kinh tế nhà nước phát triển bền vững, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, tập trung thu hút và làm chủ công nghệ cao, tiên tiến để nâng cao năng lực cạnh tranh, kinh doanh hiệu quả, bền vững.
- Hỗ trợ thực chất, hiệu quả doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh. Nâng cao chất lượng các dịch vụ phát triển kinh doanh. Xây dựng một hệ sinh thái dịch vụ hỗ trợ đầy đủ, chuyên nghiệp, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của hoạt động kinh doanh.
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra (bao gồm cả kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa), giảm gánh nặng cho doanh nghiệp.
Chính phủ ban hành Nghị định số 20/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Trong đó, Nghị định số 20/2026/NĐ-CP quy định chi tiết các chính sách miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và cá nhân.
Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp
Về miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, Nghị định số 20/2026/NĐ-CP quy định như sau:
1- Công ty quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo theo quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo có thu nhập từ hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới sáng tạo theo quy định của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và các văn bản hướng dẫn:
a) Được miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 198/2025/QH15.
b) Thời gian miễn thuế, giảm thuế đối với thu nhập tại khoản này được tính liên tục từ năm đầu tiên có thu nhập chịu thuế từ hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới sáng tạo; trường hợp không có thu nhập chịu thuế trong 03 năm đầu kể từ năm đầu tiên có doanh thu từ hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới sáng tạo thì thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ tư.
c) Phải hạch toán riêng thu nhập từ hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới sáng tạo được miễn thuế, giảm thuế tại khoản này với thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh không được ưu đãi thuế khác. Trường hợp không hạch toán riêng được thì phần thu nhập từ hoạt động được ưu đãi thuế được xác định bằng (=) tổng thu nhập chịu thuế nhân (x) với tỷ lệ phần trăm (%) doanh thu hoặc chi phí được trừ của hoạt động sản xuất, kinh doanh được ưu đãi thuế so với tổng doanh thu hoặc tổng chi phí được trừ của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, công ty quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong kỳ tính thuế.
Trường hợp có khoản doanh thu hoặc chi phí được trừ không thể hạch toán riêng được thì khoản doanh thu hoặc chi phí được trừ đó xác định theo tỷ lệ giữa doanh thu hoặc chi phí được trừ của hoạt động sản xuất, kinh doanh hưởng ưu đãi thuế trên tổng doanh thu hoặc chi phí được trừ của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, công ty quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
2- Doanh nghiệp có thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn, quyền mua cổ phần, quyền mua phần vốn góp vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo:
a) Được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản thu nhập này.
b) Thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn, quyền mua cổ phần, quyền mua phần vốn góp quy định tại khoản này là thu nhập có được từ chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn, quyền mua cổ phần, quyền mua phần vốn góp vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (bao gồm cả trường hợp bán doanh nghiệp), trừ thu nhập từ chuyển nhượng cổ phiếu, quyền mua cổ phiếu của công ty đại chúng, tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
c) Trường hợp bán toàn bộ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu dưới hình thức chuyển nhượng vốn có gắn với bất động sản thì kê khai và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo hoạt động chuyển nhượng bất động sản.
3- Doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh lần đầu:
a) Được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 03 năm kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Thời gian miễn thuế được tính liên tục từ năm đầu tiên được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Trường hợp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được cấp trước thời điểm Nghị quyết số 198/2025/QH15 có hiệu lực thi hành mà còn thời gian áp dụng ưu đãi thì doanh nghiệp được hưởng ưu đãi theo quy định tại khoản này cho thời gian còn lại.
b) Quy định ưu đãi tại khoản này không áp dụng đối với:
- Doanh nghiệp thành lập mới do sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi chủ sở hữu, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp thành lập mới mà người đại diện theo pháp luật (trừ trường hợp người đại diện theo pháp luật không phải là thành viên góp vốn), thành viên hợp danh hoặc người có số vốn góp cao nhất đã tham gia hoạt động kinh doanh với vai trò là người đại diện theo pháp luật, thành viên hợp danh hoặc người có số vốn góp cao nhất trong các doanh nghiệp đang hoạt động hoặc đã giải thể nhưng chưa được 12 tháng tính từ thời điểm giải thể doanh nghiệp cũ đến thời điểm thành lập doanh nghiệp mới.
- Thu nhập quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15.
Nghị định nêu rõ, trong cùng một thời gian, nếu doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, công ty quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa có khoản thu nhập được hưởng miễn thuế, giảm thuế theo quy định tại mục 1, 3 nêu trên vừa được hưởng miễn thuế, giảm thuế khác với quy định tại Nghị định này thì được lựa chọn hưởng miễn thuế, giảm thuế có lợi nhất và thực hiện ổn định, không thay đổi trong thời gian miễn thuế, giảm thuế.
Trường hợp trong kỳ tính thuế đầu tiên mà doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, công ty quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định tại mục 1, 3 nêu trên có thời gian hoạt động sản xuất, kinh doanh được miễn thuế, giảm thuế dưới 12 tháng thì được lựa chọn hưởng miễn thuế, giảm thuế theo quy định tại Nghị định này ngay từ kỳ tính thuế đầu tiên đó hoặc đăng ký với cơ quan thuế thời gian bắt đầu được miễn thuế, giảm thuế từ kỳ tính thuế tiếp theo.
Miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân
Đối với cá nhân, Nghị định số 20/2026/NĐ-CP quy định việc miễn, giảm thuế như sau:
1a- Cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn, quyền mua cổ phần, quyền mua phần vốn góp vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập này.
Thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn, quyền mua cổ phần, quyền mua phần vốn góp quy định tại khoản này là thu nhập có được từ chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn, quyền mua cổ phần, quyền mua phần vốn góp vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (bao gồm cả trường hợp bán doanh nghiệp), trừ thu nhập từ chuyển nhượng cổ phiếu, quyền mua cổ phiếu của công ty đại chúng, tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
Trường hợp bán toàn bộ doanh nghiệp do cá nhân làm chủ sở hữu dưới hình thức chuyển nhượng vốn có gắn với bất động sản thì kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân theo hoạt động chuyển nhượng bất động sản.
2a- Cá nhân là chuyên gia, nhà khoa học theo quy định của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và các văn bản hướng dẫn có thu nhập từ tiền lương, tiền công nhận được từ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và phát triển, tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được miễn thuế trong thời hạn 02 năm (24 tháng liên tục) và giảm 50% số thuế phải nộp trong 04 năm (48 tháng liên tục) tiếp theo đối với khoản thu nhập này.
Thời gian miễn, giảm thuế tính liên tục kể từ tháng phát sinh thu nhập được miễn, giảm thuế. Trường hợp phát sinh thu nhập trong tháng thì thời gian tính miễn, giảm thuế được tính đủ tháng.
Trường hợp cá nhân vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công được miễn, giảm thuế theo quy định tại khoản này vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công khác thì số thuế thu nhập cá nhân được miễn, giảm theo quy định tại khoản này được xác định như sau:

Nghị định quy định miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp ở mục 1,3 nêu trên có hiệu lực từ ngày Nghị quyết số 198/2025/QH15 có hiệu lực thi hành (17/5/2025) và áp dụng kể từ kỳ tính thuế năm 2025.
Quy định về miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp ở mục 2 và các quy định về miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân nêu trên có hiệu lực từ ngày 17/5/2025.
Chính phủ ban hành Nghị định số 18/2026/NĐ-CP ngày 14/01/2026 sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp. Trong đó, đáng chú ý là các quy định sửa đổi liên quan đến vấn đề hộ tịch.
Nghị định số 18/2026/NĐ-CP gồm 06 chương 18 điều, sửa đổi, bổ sung 15 nghị định sau:
1- Nghị định số 63/2011/NĐ-СР quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2018/NĐ-CP, Nghị định số 112/2025/NĐ-СР;
2- Nghị định số 85/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giám định tư pháp, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 157/2020/NĐ-CP;
3- Nghị định số 123/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 137/2018/NĐ-CP, Nghị định số 112/2025/NĐ-CP;
4- Nghị định số 172/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Đấu giá tài sản;
5- Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 112/2025/NĐ-CР;
6- Nghị định số 77/2008/NĐ-CP về tư vấn pháp luật, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2012/NĐ-CP;
7- Nghị định số 22/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 112/2025/NĐ-CР;
8- Nghị định số 23/2015/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 280/2025/NĐ-CP;
9- Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 120/2016/NĐ-CP, Nghị định số 33/2020/NĐ-CP, Nghị định số 152/2024/NĐ-CP;
10- Nghị định số 08/2020/NĐ-СР về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại;
11- Nghị định số 99/2022/NĐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm;
12- Nghị định số 55/2019/NĐ-CP về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa;
13- Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 87/2020/NĐ-CP, Nghị định số 104/2022/NĐ-CP, Nghị định số 07/2025/NĐ-CP;
14- Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 114/2016/NĐ-CP, Nghị định số 24/2019/NĐ-CP, Nghị định số 06/2025/NĐ-CP;
15- Nghị định số 191/2025/NĐ-СР quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam.
Không bắt buộc xuất trình/nộp bản giấy các giấy tờ tùy thân khi đăng ký hộ tịch nếu thông tin đã có trong hệ thống Cơ sở dữ liệu
Về vấn đề hộ tịch, Nghị định số 18/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 87/2020/NĐ-CP, Nghị định số 104/2022/NĐ-CP, Nghị định số 07/2025/NĐ-CP. Cụ thể như sau:
Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 2 về xuất trình, nộp giấy tờ khi đăng ký hộ tịch theo hướng quy định rõ cơ chế giải quyết thủ tục dựa trên dữ liệu điện tử, hạn chế yêu cầu xuất trình giấy tờ bản chính. Đồng thời, quy định rõ phương thức xử lý khi không khai thác được thông tin hoặc thông tin không chính xác. Cụ thể:
"1. Người yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch có trách nhiệm xuất trình bản chính của một trong các giấy tờ sau đây: Hộ chiếu, Thẻ căn cước công dân, Thẻ căn cước, Giấy chứng nhận căn cước hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân khi làm thủ tục trực tiếp tại cơ quan đăng ký hộ tịch; trường hợp giấy tờ tùy thân sử dụng là: Hộ chiếu, Thẻ Căn cước, Căn cước công dân, Giấy chứng nhận căn cước thì chỉ cần cung cấp thông tin về giấy tờ (số, ngày tháng năm cấp) hoặc số định danh cá nhân, cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu thông tin thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc cơ sở dữ liệu khác có liên quan để đối chiếu, khai thác dữ liệu.
Trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác thì cơ quan đăng ký hộ tịch yêu cầu người đi đăng ký hộ tịch xuất trình bản chính giấy tờ để chứng minh, đồng thời đề nghị người đi đăng ký hộ tịch cập nhật, điều chỉnh thông tin trong các cơ sở dữ liệu theo quy định của pháp luật.".
Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 22 về thủ tục xác nhận tình trạng hôn nhân đã ly hôn hoặc có vợ/chồng chết và khoản 2 Điều 24 về việc đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính. Người yêu cầu chỉ cần cung cấp thông tin về giấy tờ; không bắt buộc xuất trình/nộp bản giấy nếu thông tin đã có trong hệ thống cơ sở dữ liệu. Cụ thể:
Khoản 2 Điều 22:
"2. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ/đã có chồng nhưng đã ly hôn tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền hoặc vợ/chồng đã chết và đã đăng ký khai tử tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền thì người yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin về giấy tờ (cơ quan cấp/đăng ký, số, ngày tháng năm ban hành Bản án/Quyết định ly hôn/Giấy chứng tử/Trích lục khai tử); nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 37 của Nghị định này thì cung cấp thông tin tương ứng của Trích lục ghi chú ly hôn; cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu, khai thác thông tin của các giấy tờ này thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.".
Khoản 2 Điều 24:
"2. Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tất cả giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại. Trường hợp giấy tờ, tài liệu là giấy tờ hộ tịch hoặc giấy tờ cá nhân thuộc nhóm giấy tờ có thể được thay thế bằng dữ liệu (giấy tờ tùy thân; giấy tờ chứng minh về nơi cư trú; Thẻ bảo hiểm y tế) thì cung cấp các thông tin về giấy tờ, tài liệu đó theo hướng dẫn của cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu, cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu, khai thác thông tin, giấy tờ, tài liệu đó thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu khác có liên quan.".
Không yêu cầu xác nhận của Thủ trưởng cơ quan khi đăng ký lại khai sinh với công chức, viên chức, lực lượng vũ trang nếu đã có thông tin trên hệ thống cơ sở dữ liệu
Nghị định cũng sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 26 về việc đăng ký lại khai sinh với đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang theo hướng bỏ yêu cầu nộp văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị nếu cơ quan chức năng khai thác được thông tin liên quan trên các hệ thống cơ sở dữ liệu. Cụ thể:
"c) Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh là cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang thì ngoài các giấy tờ theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này phải có văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị về việc những nội dung khai sinh của người đó gồm họ, chữ đệm, tên; giới tính; ngày tháng năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha - con, mẹ - con phù hợp với hồ sơ do cơ quan, đơn vị đang quản lý. Trường hợp cơ quan đăng ký hộ tịch khai thác được những thông tin này thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu về cán bộ, công chức, viên chức thì người yêu cầu không phải nộp văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị."
Sửa đổi quy trình xác minh đăng ký lại khai sinh/kết hôn theo hướng tra cứu dữ liệu hộ tịch điện tử
Ngoài ra, Nghị định cũng sửa đổi, bổ sung về quy trình xác minh hồ sơ đối với đề nghị đăng ký lại khai sinh (khoản 2 Điều 26) và đăng ký lại kết hôn (khoản 2 Điều 27) khi thực hiện tại UBND cấp xã không phải nơi đăng ký trước đây theo hướng cán bộ tư pháp kiểm tra thông tin về việc đăng ký khai sinh/kết hôn trước đây trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thông qua nghiệp vụ cấp bản sao; dùng kết quả tra cứu này là căn cứ để xác định về điều kiện đăng ký lại. Thay vì phải cần xác nhận văn bản từ Ủy ban nhân dân nơi đăng ký khai sinh/ kết hôn trước đây. Cụ thể như sau:
Khoản 2 Điều 26:
"2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu việc đăng ký lại khai sinh là đúng theo quy định của pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký lại khai sinh như trình tự quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch. Nếu việc đăng ký lại khai sinh được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là nơi đã đăng ký khai sinh trước đây thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện tra cứu thông tin về việc đăng ký khai sinh trước đây của người yêu cầu trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thông qua nghiệp vụ cấp bản sao, kết quả tra cứu là căn cứ xác định đủ điều kiện hoặc không đủ điều kiện đăng ký lại.".
Khoản 2 Điều 27:
"2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu thấy hồ sơ đăng ký lại kết hôn là đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký lại kết hôn như trình tự quy định tại khoản 2 Điều 18 của Luật Hộ tịch.
Nếu việc đăng ký lại kết hôn thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là nơi đã đăng ký kết hôn trước đây thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện tra cứu thông tin về việc đăng ký kết hôn trước đây của người yêu cầu trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thông qua nghiệp vụ cấp bản sao, kết quả tra cứu là căn cứ xác định đủ điều kiện hoặc không đủ điều kiện đăng ký lại.".
Theo Bộ Tư pháp, việc sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến lĩnh vực hành chính tư pháp về hộ tịch nêu trên nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính để thực hiện việc sử dụng dữ liệu thay thế cho thành phần hồ sơ theo quy định tại Nghị quyết 66.7/2025/NĐ-CP ngày 15/11/2025 của Chính phủ quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/01/2026.
Tại Nghị định số 19/2026/NĐ-CP ngày 14/01/2026 quy định về trình tự, thủ tục thẩm định dự án quan trọng quốc gia và giám sát, đánh giá đầu tư, Chính phủ dành Chương III quy định cụ thể về thuê tư vấn thẩm tra và chi phí thẩm tra, thẩm định dự án quan trọng quốc gia.
Theo Nghị định, tư vấn thẩm tra là tổ chức hoặc cá nhân trong nước, nước ngoài hoặc liên danh trong nước và nước ngoài (sau đây gọi chung là tư vấn hoặc tư vấn thẩm tra) được Hội đồng thẩm định nhà nước hoặc cơ quan chủ trì thẩm định thuê để thực hiện một hoặc một số phần công việc của nội dung thẩm định dự án quan trọng quốc gia.
Việc lựa chọn tư vấn thẩm tra thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu.
Chi phí thẩm định và thuê tư vấn thẩm tra các dự án quan trọng quốc gia do Hội đồng thẩm định nhà nước thực hiện
Chi phí thẩm tra là chi phí thuê tư vấn thẩm tra dự án quan trọng quốc gia của Hội đồng thẩm định nhà nước.
Chi phí thẩm định là các chi phí phục vụ cho hoạt động thẩm định của Hội đồng thẩm định nhà nước (không bao gồm chi phí thẩm tra nêu trên). Chi phí thẩm định bao gồm thù lao cho các thành viên tham gia Hội đồng thẩm định nhà nước, Tổ chuyên gia thẩm định liên ngành; chi phí họp; văn phòng phẩm; khảo sát thực địa (nếu có); mua sắm, sửa chữa thiết bị phục vụ cho công tác thẩm định của Hội đồng thẩm định nhà nước (nếu có); chi phí khác liên quan; chi phí dự phòng.
Chi phí thẩm tra và thẩm định các dự án quan trọng quốc gia được xác định như sau:
a- Định mức chi phí thẩm tra báo cáo nghiên cứu tiền khả thi được tính bằng định mức chi phí thẩm tra Báo cáo nghiên cứu khả thi theo quy định của pháp luật về xây dựng. Trường hợp tổng mức đầu tư dự án vượt giá trị tối đa để tính toán định mức chi phí thẩm tra theo quy định của pháp luật về xây dựng thì được tính bằng định mức của giá trị tối đa đó.
b- Chi phí thẩm định được tính bằng 20% chi phí thẩm tra được tính theo quy định tại điểm a nêu trên.
c- Trường hợp thuê tư vấn nước ngoài, liên danh tư vấn trong nước và tư vấn nước ngoài hoặc không có định mức thì phải lập dự toán chi phí thẩm tra, bao gồm:
Chi phí chuyên gia: khoản chi phí tiền lương trả cho các chuyên gia tư vấn trong khoảng thời gian thực hiện;
Chi phí khác: các chi phí phục vụ, hỗ trợ cho hoạt động của nhà thầu tư vấn trong thời gian thực hiện hoạt động tư vấn thẩm tra như: chi phí đi lại (quốc tế và trong nước), chi phí thuê văn phòng, thiết bị văn phòng, chi phí hoạt động của văn phòng, chi phí thông tin liên lạc, chi phí hỗ trợ ăn, ở cho các chuyên gia tư vấn, chi phí bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp (nếu có) và các chi phí khác;
Thuế: các khoản thuế mà nhà thầu tư vấn thẩm tra phải nộp theo quy định của pháp luật Việt Nam;
Chi phí dự phòng: khoản chi phí dự phòng cho khối lượng công việc phát sinh và trượt giá trong thời gian nhà thầu tư vấn thẩm tra thực hiện công việc;
Nghị định cũng nêu rõ, chi phí thẩm định và thuê tư vấn thẩm tra các dự án quan trọng quốc gia được tính trong tổng mức đầu tư dự án và được chủ đầu tư, nhà đầu tư hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư thanh toán theo yêu cầu của Hội đồng thẩm định nhà nước, bảo đảm tiến độ thẩm định, thẩm tra dự án quan trọng quốc gia theo kế hoạch.
Chủ đầu tư, nhà đầu tư hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư có trách nhiệm thanh toán chi phí thẩm tra cho tư vấn thẩm tra theo hợp đồng đã được ký, sau khi có ý kiến của Hội đồng thẩm định nhà nước.
Trường hợp cần thiết Hội đồng thẩm định nhà nước yêu cầu chủ đầu tư, nhà đầu tư hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt chi phí thuê tư vấn thẩm tra. Trường hợp chủ đầu tư, nhà đầu tư hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư không đủ năng lực kinh nghiệm để thẩm định thì được thuê các tổ chức tư vấn có đủ điều kiện năng lực theo quy định để thẩm tra trước khi phê duyệt chi phí thuê tư vấn thẩm tra.
Hội đồng thẩm định nhà nước khoán chi cho các thành viên Hội đồng, Tổ chuyên gia thẩm định liên ngành và các chi phí khác, bảo đảm hoạt động thẩm định của Hội đồng thẩm định nhà nước.
Tổ chức, cá nhân tư vấn thẩm tra phải chịu trách nhiệm trước Hội đồng thẩm định nhà nước, chủ đầu tư, nhà đầu tư hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư và pháp luật về kết quả thẩm tra do mình thực hiện.
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP sửa đổi, bổ sung, cập nhật Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 1/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Sửa đổi, bổ sung, cập nhật các chỉ tiêu
Cụ thể, Nghị quyết số 11/NQ-CP sửa đổi, bổ sung, cập nhật các chỉ tiêu tại Phụ lục I Danh mục các chỉ tiêu cụ thể tại Nghị quyết số 71/NQ-CP.
Trong đó, Nghị quyết số 11/NQ-CP lược bỏ chỉ tiêu "Tỷ lệ các cơ quan nhà nước thực hiện chỉ đạo, điều hành, quản trị nội bộ trên môi trường điện tử" ra khỏi Danh mục các chỉ tiêu tại Phụ lục I.
Đồng thời, sửa đổi, cập nhật 6 chỉ tiêu sau vào Phụ lục I.

Sửa đổi, bổ sung, cập nhật các nhiệm vụ
Ngoài ra, Nghị quyết số 11/NQ-CP cũng sửa đổi, bổ sung, cập nhật các nhiệm vụ tại Phụ lục II Danh mục các nhiệm vụ triển khai Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Theo sửa đổi, tháng 2/2026, Bộ Tài chính phối hợp các bộ, ngành liên quan hoàn thành, khai thác sử dụng Hệ thống cấp mã số bảo hiểm xã hội và Quản lý bảo hiểm y tế hộ gia đình; Hệ thống quản lý thu và sổ thẻ (TST); Hệ thống xét duyệt chính sách (TCS); Hệ thống giám định bảo hiểm y tế.
Tháng 6/2026, hình thành một số Trung tâm dữ liệu đạt tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn xanh (Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp các bộ, ngành liên quan).
Tháng 9/2026, một số địa phương được lựa chọn phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng Đề án thí điểm triển khai bản sao số cho một số thành phố lớn thuộc trung ương để quản lý, phát triển.
Tháng 12/2026, Bộ Tài chính phối hợp các bộ, ngành liên quan hoàn thành, khai thác sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về khu công nghiệp, khu kinh tế; Cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài.
Tháng 12/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp các bộ, ngành liên quan hoàn thành, khai thác sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ nghèo, hộ cận nghèo; Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.
Tháng 12/2026, Bộ Công an phối hợp Bộ Tư pháp hoàn thành, khai thác sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính; Bộ Công an phối hợp các bộ, ngành liên quan hoàn thành, khai thác sử dụng Cơ sở dữ liệu Định danh địa điểm.
Tháng 12/2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp các bộ, ngành liên quan hoàn thành, khai thác sử dụng Cơ sở dữ liệu Cơ quan báo chí; Cơ sở dữ liệu Sản phẩm quảng cáo; Cơ sở dữ liệu Thành tích thể thao; Cơ sở dữ liệu Phòng chống bạo lực gia đình.
Tháng 12/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Ngoại giao và các cơ quan liên quan báo cáo kết quả việc xây dựng và triển khai các hoạt động kết nối thu hút, trọng dụng, giữ chân các nhà khoa học, các chuyên gia trong và ngoài nước có khả năng tổ chức, điều hành, chỉ huy, triển khai các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Các thành phố trực thuộc trung ương và một số tỉnh đủ điều kiện xây dựng và triển khai các Đề án đô thị thông minh. Đề án hoàn thành và triển khai trong tháng 6/2028...
Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 14/1/2026.
Các nội dung đã thực hiện theo Chương trình hành động ban hành kèm theo Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 1/4/2025 của Chính phủ tiếp tục được triển khai thực hiện và cập nhật theo sửa đổi tại Nghị quyết này.
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 14/NQ-CP ngày 16/01/2026 về việc đề nghị bổ sung Dự án Luật an toàn thực phẩm (sửa đổi) vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội.
Chính phủ thông qua đề nghị bổ sung dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) vào Chương trình lập pháp năm 2026; Bộ Y tế chịu trách nhiệm về nội dung, báo cáo đề xuất, bảo đảm đúng quy định của pháp luật.
Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Y tế thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề xuất bổ sung dự án Luật nêu trên vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội để thông qua tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI; chủ động báo cáo, giải trình với Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định.
Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan có liên quan triển khai xây dựng Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) theo đúng quy định của pháp luật.
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 16/1/2026 công bố Nghị định của Chính phủ quy định chế độ quản lý ngân quỹ nhà nước tiếp tục có hiệu lực.
Cụ thể, Chính phủ công bố Nghị định số 24/2016/NĐ-CP ngày 05/4/2016 của Chính phủ quy định chế độ quản lý ngân quỹ nhà nước, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 14/2025/NĐ-CP ngày 24/1/2025 tiếp tục có hiệu lực thi hành kể từ năm ngân sách 2026 cho đến khi có văn bản thay thế, bãi bỏ.
Nghị quyết số 13/NQ-CP có hiệu lực kể từ ngày 16/1/2026. Trong quá trình thực hiện, trường hợp có khó khăn, vướng mắc, các cơ quan, đơn vị báo cáo Bộ Tài chính để chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan hướng dẫn, xử lý hoặc trình cấp có thẩm quyền xem xét, chỉ đạo.
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long vừa ký Quyết định số 108/QĐ-TTg ngày 16/01/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục số 123/2025/QH15 (Kế hoạch).
Mục đích của Kế hoạch nhằm xác định cụ thể, đầy đủ, toàn diện các công việc, nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan trong việc tổ chức triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục số 123/2025/QH15, bảo đảm kịp thời, thống nhất và hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực.
Phân công nhiệm vụ cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp trong việc thực hiện các hoạt động triển khai thi hành Luật theo quan điểm "06 rõ: rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả".
Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của bộ, ngành và địa phương, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc triển khai thi hành Luật, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, góp phần đưa các điểm mới, tinh thần và mục tiêu của Luật sớm đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả trong thực tiễn.
08 yêu cầu, nhiệm vụ
Kế hoạch đưa ra các yêu cầu, nhiệm vụ đối với Bộ Giáo dục và các bộ, ngành, địa phương, cơ quan liên quan. Cụ thể như sau:
1. Về tổ chức quán triệt, truyền thông, phổ biến Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật, trong năm 2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện triển khai ở cấp trung ương. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phối hợp với các ban, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện nhiệm vụ này ở cấp địa phương.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng văn bản quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật.
Danh mục văn bản cần ban hành để quy định chi tiết Luật và thời gian hoàn thành thực hiện theo Quyết định số 2835/QĐ-TTg ngày 31/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ bạn hành danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, các cơ quan, tổ chức có liên quan rà soát, công bố theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản công bố tiếp tục có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần văn bản quy định chi tiết, quy định biện pháp hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, hoàn thành trong tháng 01/2026; danh mục văn bản cần sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, hoàn thành trong tháng 02/2026. Các văn bản được sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoàn thành theo lộ trình, chậm nhất ngày 20/6/2026.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp, các cơ quan, tổ chức có liên quan rà soát, công bố theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản công bố tiếp tục có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần văn bản quy định chi tiết, quy định biện pháp hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục số 43/2019/QH14; hoàn thành trong tháng 01/2026. Các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp gửi danh mục văn bản cần sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, ban hành mới về Bộ Giáo dục và Đào tạo trong tháng 02/2026 để theo dõi.
Tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản Luật; kiểm tra, đôn đốc, theo dõi tình hình tổ chức thi hành Luật
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, các cơ quan, tổ chức liên quan cập nhật Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật vào Bộ pháp điển đề mục Giáo dục trong năm 2026 và các năm tiếp theo.
5. Năm 2026 và các năm tiếp theo, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội nghị, tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về các nội dung của Luật.
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo thường xuyên phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức có liên quan hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành Luật; tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản Luật; kiểm tra, đôn đốc, theo dõi tình hình tổ chức thi hành Luật và các văn bản quy định chỉ tiết, hướng dẫn thi hành Luật
7. Định kỳ 5 năm hoặc đột xuất theo yêu cầu, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức sơ kết, tổng kết việc thi hành Luật.
8. Định kỳ hằng năm hoặc đột xuất theo yêu cầu, Bộ Tư pháp thực hiện việc báo cáo về tổ chức thi hành Luật.
Tích cực triển khai thực hiện Kế hoạch bảo đảm tiến độ, chất lượng, tiết kiệm, tránh lãng phí
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan khác có liên quan trong việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ được nêu trong Kế hoạch theo đúng tiến độ và báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện Kế hoạch này.
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc soạn thảo các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật có nội dung liên quan đến giáo dục, đào tạo các ngành, nghể đặc thù lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao.
Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Bộ Dân tộc và Tôn giáo trong thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến giáo dục, đào tạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là trong công tác xây dựng chính sách cho học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số.
Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm rà soát, thực hiện theo thẩm quyển hoặc tham mưu cơ quan, người có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy định để phù hợp với quy định của Luật liên quan đến lực lượng vũ trang.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã trong phạm vi của mình chủ động, tích cực triển khai thực hiện Kế hoạch này theo nhiệm vụ được phân công, bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng hiệu quả, tiết kiệm, tránh hình thức, lãng phí.
Đồng thời, căn cứ nội dung Kế hoạch này và tình hình thực tiễn, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chủ động xây dựng kế hoạch triển khai thi hành Luật hoặc lồng ghép vào kế hoạch triển khai các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, trong đó lưu ý các nhiệm vụ liên quan đến nguồn lực thực hiện các nội dung được phân cấp, phân quyền hoặc giao trách nhiệm theo quy định của Luật.
Chính phủ ra Nghị quyết số 12/NQ-CP ngày 15/01/2026 ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 115-KL/TW ngày 16/01/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/01/2019 của Bộ Chính trị khóa XII về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế (Chương trình).
Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 115-KL/TW của Chính phủ đến năm 2030 làm căn cứ để các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch, chương trình, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Kết luận số 115-KL/TW và Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/01/2019 của Bộ Chính trị khóa XII về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế.
Chương trình này bao gồm các nhiệm vụ đề ra trong các kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế đã được phê duyệt và xây dựng, triển khai thực hiện một số nhiệm vụ, kế hoạch, chương trình, đề án mới đến năm 2030.
Phấn đấu đến năm 2030 tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 35 - 40%; tỷ lệ thất nghiệp chung dưới 3%
Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030, tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân đạt khoảng 8,5%/năm. Tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội dưới 20%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 35 - 40%. Tỷ lệ người dân trong độ tuổi lao động được đào tạo kỹ năng số cơ bản đạt trên 80%; có khả năng cung cấp nguồn nhân lực công nghệ số chất lượng cao cho khu vực và thế giới. Tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực phi chính thức giảm xuống dưới 40%. Tỷ lệ thất nghiệp chung dưới 3%.
Bảo đảm vững chắc mức sinh thay thế của quốc gia. Tuổi thọ bình quân đạt khoảng 75,5 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm. Chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,78.
Đến năm 2030, hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối với khu vực và thế giới. Đạt được các chỉ tiêu về sử dụng hiệu quả tài nguyên (đất, nước, khoáng sản), tái sử dụng, tái chế chất thải tương đương với các nước dẫn đầu ASEAN. Giảm tiêu hao năng lượng tính trên đơn vị GDP ở mức 1 - 1,5%/năm.
Đến năm 2030, đạt mục tiêu kinh tế dữ liệu tăng gấp 3 lần tăng trưởng GDP; tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ số đạt tương đương các nước phát triển
Bảo đảm an toàn, an ninh tài chính quốc gia. Nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia nằm trong ngưỡng an toàn theo quy định của Quốc hội.
Tổng đầu tư xã hội bình quân 5 năm đạt khoảng 40% GDP, tỷ lệ đầu tư công chiếm 20 - 22% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 120% GDP. Dư nợ thị trường trái phiếu đạt tối thiểu 58% GDP. Quy mô doanh thu của ngành bảo hiểm đạt 3,3 - 3,5% GDP. Tổng mức dự trữ quốc gia đạt 0,5% GDP.
Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng trên 55%. Chỉ số hiệu quả môi trường (EPI) đạt trên 55. Phấn đấu thuộc nhóm 50 quốc gia đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số. Kinh tế dữ liệu tăng gấp 3 lần tăng trưởng GDP. Tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Tỷ trọng công nghiệp công nghệ số trong GDP tối thiểu 8%. Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo đạt trên 45%.
Số lượng doanh nghiệp được xếp vào danh sách doanh nghiệp có giá trị thương hiệu cao nhất của các tổ chức xếp hạng uy tín trên thế giới tăng 10% mỗi năm. Tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ số đạt tương đương các nước phát triển.
Phấn đấu đến năm 2030, tổng thu du lịch khoảng 13 - 14% GDP.
7 nhiệm vụ, giải pháp
Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong quá trình triển khai chức năng, nhiệm vụ được giao cần tập trung thực hiện 07 nhiệm vụ, giải pháp sau:
1. Tập trung hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế, bảo đảm phù hợp với đường lối phát triển nhanh, bền vững của đất nước, thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phù hợp với Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thể chế phải được xây dựng đồng bộ cả ở phương diện tháo gỡ các điểm nghẽn trong phát triển và kiến tạo động lực tăng trưởng mới, với mục tiêu huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nhất mọi nguồn lực từ Nhà nước, xã hội và người dân cho sự nghiệp phát triển đất nước. Có cơ chế, chính sách hữu hiệu để người dân tin tưởng, an tâm bỏ vốn đầu tư, kinh doanh thay vì tích trữ vàng; hạn chế đầu cơ đất đai, bất động sản.
2. Thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, hiệu quả các luật, pháp lệnh đã được ban hành. Chủ động rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là các luật, pháp lệnh thuộc Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2025 đã được điều chỉnh, bảo đảm yêu cầu: kiên quyết xóa bỏ tư duy "không quản được thì cấm", khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật; mỗi vấn đề, mỗi nội dung chỉ quy định tại một luật duy nhất.
Cải cách thể chế hành chính theo hướng đơn giản, minh bạch, hiện đại; triệt để phân cấp, phân quyền đi đôi với hậu kiểm và đề cao trách nhiệm giải trình của người đứng đầu; chuyển mạnh từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" trong quản lý nhà nước. Pháp luật phải bảo đảm tính minh bạch, thống nhất, ổn định, khả thi và có tầm nhìn chiến lược dài hạn.
3. Tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, năng lực điều hành và khả năng kiến tạo phát triển. Tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát chặt chẽ và xác định rõ trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu trong quản lý, sử dụng các nguồn lực kinh tế.
4. Tổng kết thực tiễn, hoàn thiện thể chế trên cơ sở luật hóa các cơ chế, chính sách đặc thù, các mô hình thí điểm đã được kiểm nghiệm hiệu quả; đồng thời nghiên cứu mở rộng phạm vi, đối tượng áp dụng phù hợp với thực tiễn phát triển và yêu cầu đổi mới sáng tạo trong từng lĩnh vực, địa phương.
5. Đổi mới toàn diện công tác quy hoạch theo hướng thống nhất, đồng bộ, khả thi, bền vững, gắn kết giữa các ngành, các vùng, các cấp và giữa quy hoạch với kế hoạch phát triển. Xác định quy hoạch là công cụ chủ yếu để huy động, phân bổ, sử dụng hiệu quả nguồn lực theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Khắc phục tình trạng cục bộ, chồng chéo, "xin - cho"; bảo đảm công khai, minh bạch trong lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch. Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, cơ sở dữ liệu dùng chung trong quản lý và giám sát thực hiện quy hoạch.
6. Rà soát, kiểm kê, đánh giá và cập nhật đầy đủ các nguồn lực của nền kinh tế, bao gồm cả nguồn lực vật chất và phi vật chất, truyền thống và hiện đại; xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa, liên thông, đồng bộ giữa các ngành, lĩnh vực, làm căn cứ cho hoạch định chính sách và quản lý hiệu quả.
Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn trong quản lý, dự báo, theo dõi, giám sát việc sử dụng nguồn lực, phục vụ quá trình hoạch định và điều chỉnh chính sách phù hợp với thực tiễn phát triển.
7. Xử lý dứt điểm các vướng mắc, tồn đọng làm chậm đưa nguồn lực vào sử dụng, như quy hoạch treo, dự án ách tắc thủ tục, đất công bỏ hoang, tài sản tranh chấp, vụ việc tồn đọng... Phối hợp liên ngành hiệu quả, gắn trách nhiệm người đứng đầu với hiệu quả huy động và sử dụng nguồn lực trên thực tế.
Ngoài ra, Chương trình cũng đưa ra các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể đối với từng nhóm nguồn lực về: nhân lực; vật lực; tài lực; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; văn hoá, lịch sử, truyền thống, cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa chiến lược của quốc gia; thương hiệu quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam…
Tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về nâng cao hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế
Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, đánh giá việc triển khai thực hiện Kết luận số 115-KL/TW, Nghị quyết số 30-NQ/TW và Chương trình hành động này; kịp thời xây dựng hoặc lồng ghép, điều chỉnh các chương trình, kế hoạch, giải pháp cụ thể phù hợp với yêu cầu thực tế, bảo đảm thực hiện đạt hiệu quả cao nhất.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các bộ, ngành, tổ chức, đoàn thể liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi nội dung của Kết luận số 115-KL/TW.
Đồng thời, tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế. Phối hợp với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các bộ, ban, ngành, cơ quan liên quan triển khai, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Chương trình hành động, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (15/01/2026); thay thế Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 12/3/2020 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/01/2019 của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế.
Phó Thủ tướng Lê Thành Long vừa ký Quyết định số 110/QĐ-TTg ngày 16/01/2026 phê duyệt Đề án "Tuyên truyền, vận động, hướng dẫn nông dân sản xuất, kinh doanh nông sản, thực phẩm an toàn vì sức khoẻ cộng đồng giai đoạn 2026 - 2030" (Đề án).
Mục tiêu của Đề án là nâng cao vai trò, hiệu quả tham gia bảo đảm an toàn thực phẩm của Hội Nông dân; phát huy vai trò, khơi dậy tinh thần trách nhiệm vì cộng đồng của hội viên, nông dân trong sản xuất, kinh doanh; thu hút ngày càng nhiều hội viên, nông dân, cá nhân và tổ chức tham gia phát triển các chuỗi giá trị nông sản, cung ứng thực phẩm an toàn; nhân rộng các mô hình sản xuất, chăn nuôi, nuôi trồng tiên tiến, chất lượng; góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm an toàn thực phẩm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập.
Đến 2030, 100% sản phẩm OCOP nông sản thực phẩm do Hội Nông dân vận động, tư vấn, hỗ trợ được truy xuất nguồn gốc
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030: Trên 95% hộ hội viên nông dân sản xuất, chế biến, kinh doanh nông sản, thực phẩm có kiến thức và thực hành đúng về an toàn thực phẩm.
Tư vấn, hỗ trợ ít nhất 3.000 Chi Hội Nông dân nghề nghiệp, 18.000 Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp sản xuất, chế biến, kinh doanh nông sản, thực phẩm theo quy trình, tiêu chuẩn chất lượng an toàn.
Hướng dẫn, hỗ trợ ít nhất 1.500 hợp tác xã, 4.500 tổ hợp tác trong nông nghiệp sản xuất, chế biến, kinh doanh theo quy trình, tiêu chuẩn chất lượng an toàn, trong đó có ít nhất 300 hợp tác xã kết nối chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn; 100% sản phẩm OCOP nông sản thực phẩm do Hội Nông dân vận động, tư vấn, hỗ trợ được truy xuất nguồn gốc.
100% cán bộ Hội Nông dân làm công tác tư vấn, hỗ trợ được bồi dưỡng, tập huấn nâng cao kiến thức và kỹ năng tuyên truyền, vận động, tư vấn, hỗ trợ nông dân sản xuất, bảo quản, chế biến, kinh doanh nông sản, thực phẩm an toàn.
Tập huấn, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, thu hút hội viên, nông dân tham gia bảo đảm an toàn thực phẩm
Để đạt mục tiêu trên, Đề án đặt ra các nhiệm vụ và giải pháp, trong đó thông tin, tuyên truyền, tập huấn, bồi dưỡng nâng cao nhận thức, kiến thức, vận động, thu hút hội viên, nông dân tham gia bảo đảm an toàn thực phẩm.
Đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm; tổ chức tập huấn, hội nghị, diễn đàn, tọa đàm, nâng cao nhận thức, kiến thức; xây dựng văn hóa sản xuất, tiêu dùng thực phẩm an toàn trong nông dân.
Vận động hội viên, nông dân tham gia, ký cam kết, chứng nhận cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh nông sản, thực phẩm an toàn; đưa an toàn thực phẩm vào sinh hoạt chi, tổ hội, câu lạc bộ của nông dân; gắn tuyên truyền với xây dựng mô hình điểm.
Phát huy hệ thống truyền thông giới thiệu các mô hình, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thực phẩm, tầm quan trọng đối với sức khỏe; tuyên truyền chế tài xử phạt, lên án các hành vi vi phạm; đăng tải danh sách các cơ sở vi phạm an toàn thực phẩm bị xử lý; tạo dư luận xã hội, tẩy chay các sản phẩm, hàng hóa không đảm bảo an toàn thực phẩm.
Hỗ trợ nông dân xây dựng, nhân rộng các mô hình xanh, hữu cơ, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao
Bên cạnh đó, tư vấn, hướng dẫn, hỗ trợ hội viên, nông dân, chi, tổ Hội Nông dân nghề nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp thực hành về an toàn thực phẩm.
Trong đó, tập huấn, hướng dẫn cho hội viên, nông dân các phương pháp chế biến, bảo quản khoa học, sử dụng đúng cách hóa chất bảo vệ thực vật, an toàn thức ăn chăn nuôi, phân bón, hóa chất xử lý nước nuôi; sử dụng chế phẩm hữu cơ, sinh học.
Hướng dẫn, hỗ trợ hội viên, nông dân xây dựng, nhân rộng các mô hình xanh, hữu cơ, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, VietGAP trong trồng trọt; mô hình 3F, VietGAP trong chăn nuôi; nuôi hữu cơ, sinh thái, IMTA, Aquaponics, VietGAP trong nuôi trồng thủy sản; tham gia chuỗi giá trị.
Tư vấn, hỗ trợ chi Hội, tổ Hội Nông dân nghề nghiệp ứng dụng công nghệ cao, liên kết chuỗi giá trị; áp dụng các quy trình GMP, GHP, biện pháp SPS trong sản xuất, chế biến, kinh doanh nông sản, thực phẩm.
Hỗ trợ xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa nông sản, phát triển sản phẩm OCOP, đăng ký mã số vùng trồng, vùng nuôi, xây dựng mã QR code truy xuất nguồn gốc nông sản. Hỗ trợ hội viên, nông dân, chi Hội, tổ Hội Nông dân, tổ hợp tác, hợp tác xã tiếp cận, sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong sản xuất, bảo quản, chế biến, kinh doanh nông sản, thực phẩm, xây dựng chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn.
Ngoài ra, theo Đề án, tư vấn, hướng dẫn, hỗ trợ hội viên, nông dân, chi, tổ Hội Nông dân nghề nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp chuyển đổi số trong sản xuất, kinh doanh gắn với an toàn thực phẩm; tập huấn, hướng dẫn cho hội viên, nông dân, thành viên tổ hợp tác, hợp tác xã các kiến thức, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, thiết bị thông minh, công nghệ mạng an toàn, thay đổi tư duy và phương thức sản xuất, kinh doanh...
Phó Thủ tướng Mai Văn Chính vừa ký Quyết định số 88/QĐ-TTg ngày 15/01/2026 phê duyệt Nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, tỉnh Tây Ninh.
Phạm vi, quy mô lập quy hoạch
Quyết định nêu rõ phạm vi nghiên cứu có tổng diện tích khoảng 291,25 ha; là toàn bộ diện tích khoanh vùng Khu vực bảo vệ I và II của 03 di tích thành phần; gồm: di tích Căn cứ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, di tích Căn cứ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam và phần diện tích tuyến đường giao thông hiện hữu kết nối 03 di tích (dài khoảng 25 km) thuộc địa giới hành chính xã Tân Lập, tỉnh Tây Ninh.
Quy mô lập quy hoạch có tổng diện tích khoảng 241,25 ha, bao gồm:
Di tích Căn cứ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, có diện tích 30 ha; trong đó: Khu vực bảo vệ I, diện tích 2,08 ha và Khu vực bảo vệ II, diện tích 27,92 ha.
Di tích Căn cứ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, có diện tích 60 ha; trong đó: Khu vực bảo vệ I, diện tích 2,47 ha và Khu vực bảo vệ II, diện tích 57,53 ha.
Di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, có diện tích 151,25 ha; trong đó: Khu vực bảo vệ I, diện tích 70,00 ha và Khu vực bảo vệ II, diện tích 81,25 ha.
Theo Quyết định, đối tượng nghiên cứu lập quy hoạch bao gồm:
Các di tích lịch sử có liên quan tới các sự kiện lịch sử và các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, các cơ quan Trung ương đã từng ở và làm việc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Các không gian cảnh quan thuộc các di tích: Căn cứ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Căn cứ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Căn cứ Trung ương Cục miền Nam.
Các giá trị về đa dạng sinh học trong Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát. Các hoạt động quản lý, khai thác và phát huy giá trị di tích; vị trí địa lý của di tích về mặt chính trị, bảo vệ rừng và bảo vệ biên giới.
Các giá trị văn hóa phi vật thể có thể có tại di tích: lễ hội, văn hóa tín ngưỡng, phong tục tập quán. Các yếu tố liên quan khác về kinh tế - xã hội, dân cư, môi trường, các thể chế và chính sách có liên quan.
Mối liên hệ với các di tích, công trình, địa điểm du lịch trong khu vực để kết nối, phát triển du lịch.
Bảo vệ và phát triển điểm du lịch lịch sử - văn hóa, cách mạng hấp dẫn, kết nối các di tích
Mục tiêu lập quy hoạch di tích nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa, cảnh quan - sinh thái của khu di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, thông qua việc phục dựng khung cảnh của căn cứ dựa trên cơ sở tư liệu và kết quả nghiên cứu về di tích, gắn với phát triển du lịch, đảm bảo tính hài hòa, bền vững.
Bảo vệ và phát triển điểm du lịch lịch sử - văn hóa, cách mạng hấp dẫn, kết nối các di tích, điểm du lịch khác của tỉnh Tây Ninh và vùng Đông Nam Bộ, tạo ra các sản phẩm du lịch đa dạng, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Phát huy giá trị lịch sử cách mạng của di tích nhằm giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau, tạo thành điểm du lịch lịch sử - văn hóa, là địa chỉ đỏ quan trọng của cả vùng biên giới và Đông Nam Bộ.
Phân tích, đánh giá hiện trạng di tích
Theo Quyết định, nội dung nhiệm vụ lập quy hoạch yêu cầu phân tích, đánh giá hiện trạng di tích và đất đai thuộc di tích; tổ chức sưu tầm, nghiên cứu, bổ sung tư liệu, tài liệu liên quan đến di tích; thu thập thông tin thông qua phỏng vấn nhân chứng nhằm hoàn thiện hồ sơ hệ thống di tích, làm cơ sở phục vụ công tác bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích; khảo sát, đánh giá các yếu tố lịch sử, văn hóa, xã hội có liên quan đến di tích; xác định giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trong khu vực di tích; ghi nhận các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội gắn liền với di tích.
Đồng thời, đánh giá hiện trạng công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích; làm rõ vai trò, sự tham gia của cộng đồng trong quản lý, bảo tồn di tích; rà soát tình hình thực hiện các dự án đầu tư tu bổ, tôn tạo; đánh giá việc huy động các nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước và nguồn vốn xã hội hóa đối với các dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; đánh giá hiện trạng công trình dân sinh, công trình kinh tế - xã hội và các công trình khác trong phạm vi di tích; rà soát các dự án đang triển khai có khả năng ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện quy hoạch (nếu có).
Bên cạnh đó, xác định các nội dung kế thừa, đánh giá sự phù hợp của quy hoạch di tích với các quy hoạch đã có trong phạm vi quy hoạch và với các cấp độ quy hoạch cấp trên (quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh).
Xác định ranh giới khu vực bảo vệ di tích, kiến nghị về việc điều chỉnh mở rộng hoặc thu hẹp ranh giới khu vực bảo vệ di tích; xác định khu vực cảnh quan văn hóa của di tích, khu vực hạn chế xây dựng, khu vực xây dựng mới; đề xuất việc xếp hạng bổ sung công trình, địa điểm mới phát hiện.
Đề xuất định hướng bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; xác định danh mục các di tích bảo quản, tu bổ, phục hồi và mức độ bảo tồn đối với từng hạng mục di tích. Xác định nguyên tắc và giải pháp cơ bản đối với việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; giải pháp gắn kết hài hòa việc bảo tồn, tôn tạo di tích và bảo vệ cảnh quan tự nhiên với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long vừa ký Quyết định số 109/QĐ-TTg ngày 16/01/2026 phê duyệt Đề án "Giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030.
Mục tiêu chung của Đề án "Giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030" nhằm tạo chuyển biến rõ rệt về nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ quân đội và các tầng lớp nhân dân đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội; góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vào Đảng, Nhà nước và Quân đội, phát huy giá trị văn hóa "Bộ đội Cụ Hồ", xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.
Phấn đấu 80% cán bộ, nhân dân được tiếp cận các thông tin, tài liệu, nhất là sản phẩm truyền thông số
Đề án đặt ra mục tiêu cụ thể như sau:
Phấn đấu 100% sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ, người lao động trong Quân đội (gọi chung là cán bộ, chiến sĩ) được giáo dục, tuyên truyền; có hiểu biết và nhận thức đầy đủ, sâu sắc và có khả năng, kỹ năng giáo dục, tuyên truyền về Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội cho nhân dân. Trong đó, giai đoạn 2026 – 2028 phấn đấu đạt 60%; giai đoạn 2029 – 2030 hoàn thành 100%.
Đặt mục tiêu 80% cán bộ, nhân dân được giáo dục, tuyên truyền; được tiếp cận các thông tin, tài liệu, ấn phẩm tuyên truyền, nhất là sản phẩm truyền thông số; có hiểu biết và nhận thức cơ bản về Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội. Trong đó, giai đoạn 2026 – 2028 đạt 50% mục tiêu; giai đoạn 2029 – 2030 hoàn thành 100% mục tiêu đề ra.
Phấn đấu xây dựng được ít nhất 10 mô hình điểm về công tác giáo dục, tuyên truyền
Phấn đấu 100% phóng viên, biên tập viên, báo cáo viên, thông tin viên, tuyên truyền viên các cơ quan, đơn vị quân đội; 100% phóng viên, biên tập viên đảm nhiệm lĩnh vực quốc phòng, quân sự ở các cơ quan thông tấn, báo chí trung ương và địa phương được bảo đảm tài liệu, bồi dưỡng kiến thức và tập huấn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội. Trong đó, phấn đấu giai đoạn 2026 - 2028 đạt 70%; giai đoạn 2029 – 2030 hoàn thành 100%.
Đặt mục tiêu 100% Đoàn kinh tế - quốc phòng được bảo đảm các điều kiện, cơ sở vật chất cần thiết để thực hiện Đề án và chuyển đổi số trong giáo dục, tuyên truyền về Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội. Trong đó, giai đoạn 2026 - 2028 đạt 50%; giai đoạn 2029 - 2030 hoàn thành 100%.
Phấn đấu xây dựng được ít nhất 10 mô hình điểm về công tác giáo dục, tuyên truyền tại các cơ quan, đơn vị quân đội và các địa phương. Trong đó, phấn đấu hoàn thành xây dựng mô hình trong giai đoạn 2026 – 2028 và phổ biến nhân rộng trọng toàn quốc trong giai đoạn 2029 - 2030.
08 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm
Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, Đề án đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp chủ yếu như sau:
1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội và cấp ủy, người chỉ huy các cơ quan, đơn vị quân đội đối với công tác giáo dục, tuyền truyền về Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội.
2. Khảo sát, đánh giá nhận thức, nhu cầu tìm hiểu, học tập, tình hình thực hiện công tác giáo dục, tuyên truyền, xây dựng bộ chỉ số đánh giá (KPI) về nhận thức của đối tượng giáo dục, tuyên truyền để xác định phương hướng, nội dung, giải pháp, hình thức, mô hình giáo dục, tuyên truyền phù hợp, hiệu quả.
3. Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục, tuyền truyền theo hướng lấy cán bộ, chiến sĩ và người dân làm trung tâm, phù hợp với đối tượng, thời điểm, đơn vị, địa bàn, lĩnh vực.
4. Ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện chuyển đổi số, tăng cường sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong giáo dục, tuyên truyền về Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội.
5. Nâng cao năng lực cho cán bộ, chiến sĩ các đơn vị quân đội và lực lượng trực tiếp tham gia công tác giáo dục, tuyền truyền; bảo đảm các điều kiện, cơ sở vật chất cần thiết để thực hiện hiệu quả Đề án.
6. Rà soát, duy trì, xây dựng, nhân rộng các mô hình điểm, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả của các cơ quan, đơn vị, địa phương trong công tác giáo dục, tuyền truyền về Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội.
7. Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị quân đội với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương và các cơ quan, tổ chức trong giáo dục, tuyên truyền; lồng ghép việc thực hiện Đề án với các chương trình, đề án, kế hoạch khác có liên quan.
8. Huy động các nguồn lực và tăng cường kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Đề án.
Đề án cũng phân công trách nhiệm cụ thể cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương và các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện triển khai nghiêm túc các nhiệm vụ của Đề án này.
Bộ Quốc phòng có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, sơ kết, tổng kết; tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện đề án từng giai đoạn.
Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình ký Quyết định số 99/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Thi hành án hình sự năm 2025.
Luật Thi hành án hình sự số 127/2025/QH15 được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 ngày 10 tháng 12 năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 (Luật). Để bảo đảm triển khai thi hành Luật kịp thời, thống nhất và có hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật.
Mục tiêu là xác định cụ thể các nội dung công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm cũng như cơ chế phối hợp của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tổ chức triển khai thi hành Luật bảo đảm kịp thời, đồng bộ, thống nhất và hiệu quả; xác định cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các bộ, cơ quan ngang bộ với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc triển khai thi hành luật trên phạm vi cả nước.
Đồng thời, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức và người dân trong việc triển khai thi hành Luật nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người chấp hành án.
Những nội dung chính của Kế hoạch
Nội dung chính của Kế hoạch gồm:
1- Rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật: Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tổ chức rà soát văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Thi hành án hình sự thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được phân công; thực hiện theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới, bảo đảm sự thống nhất, phù hợp với quy định của Luật.
2- Rà soát trường hợp thi hành án để thực hiện theo quy định chuyển tiếp của Luật: Hướng dẫn các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phối hợp với Tòa án có thẩm quyền rà soát đối với bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà đến ngày Luật này có hiệu lực chưa được thi hành hoặc chưa thi hành xong thì áp dụng các quy định của Luật này để thi hành; hướng dẫn cơ quan thi hành án hình sự trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân tiến hành rà soát đối với việc thi hành bản án, quyết định theo Luật Thi hành án hình sự số 41/2019/QH14 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 51/2024/QH15, Luật số 86/2025/QH15 nhưng đến ngày Luật này có hiệu lực mà còn khiếu nại, tố cáo thì việc giải quyết khiếu nại, tố cáo được áp dụng theo quy định của Luật Thi hành án hình sự số 41/2019/QH14 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 51/2024/QH15, Luật số 86/2025/QH15 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.
Đồng thời, hướng dẫn các trại giam tiến hành rà soát đối với các khu lao động, hướng nghiệp, dạy nghề ngoài trại giam đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, thành lập theo quy định của Nghị quyết số 54/2022/QH15 ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Quốc hội về thí điểm mô hình tổ chức hoạt động lao động, hướng nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân ngoài trại giam và văn bản quy định chi tiết thi hành thì tiếp tục hoạt động đến hết thời hạn có hiệu lực của hợp đồng hợp tác đã được ký kết giữa trại giam với tổ chức hợp tác. Từ sau ngày Luật này có hiệu lực, việc gia hạn hợp đồng hợp tác áp dụng theo quy định của Luật này và văn bản quy định chi tiết...
3- Xây dựng văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật: Nghị định của Chính phủ quy định về quy trình thực hiện việc tiêm thuốc độc; Nghị định của Chính phủ quy định về công tác tái hòa nhập cộng đồng; Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi hành án hình sự; Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết về cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự...
4- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật: Tổ chức tập huấn Luật nhằm nâng cao trách nhiệm, thống nhất nhận thức cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý, cán bộ trực tiếp làm công tác tư pháp, thi hành án, bổ trợ tư pháp, cán bộ làm công tác giảng dạy, nghiên cứu pháp luật và cho nhân dân; biên soạn tài liệu, tổ chức tập huấn về pháp luật thi hành án hình sự cho lực lượng trực tiếp làm công tác tư pháp, cơ quan thi hành án và các cơ quan bổ trợ tư pháp...
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Quyết định số 85/QĐ-TTg thành lập Hội đồng thẩm định điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Hội đồng thẩm định).
Theo Quyết định, Nhiệm vụ của Hội đồng thẩm định là tổ chức thẩm định điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đối với 06 vùng: Trung du và miền núi phía Bắc; đồng bằng sông Hồng; Bắc Trung Bộ; duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long theo quy định tại Điều 56 Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15.
Cơ cấu tổ chức của Hội đồng thẩm định gồm: Chủ tịch Hội đồng, các thành viên Hội đồng, Ủy viên phản biện và Cơ quan thường trực của Hội đồng thẩm định.
Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng là Chủ tịch Hội đồng thẩm định
Chủ tịch Hội đồng thẩm định là Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng.
Thành viên Hội đồng thẩm định gồm:
- Đại diện bộ, cơ quan ngang bộ, bao gồm: Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Bộ Ngoại giao; Bộ Nội vụ; Bộ Tư pháp; Bộ Tài chính; Bộ Công Thương; Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Bộ Xây dựng; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Y tế; Bộ Dân tộc và Tôn giáo; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Thanh tra Chính phủ.
- Lãnh đạo Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phố.
- Các chuyên gia là Ủy viên phản biện.
Bộ Tài chính là cơ quan thường trực của Hội đồng thẩm định, được sử dụng con dấu của Bộ Tài chính trong quá trình hoạt động.
Hội đồng thẩm định hoạt động theo hình thức kiêm nhiệm và tự giải thể sau khi điều chỉnh quy hoạch 06 vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quy định tại khoản 19 Điều 56 Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Công văn số 80/TTg-PL ngày 16/1/2026 chỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ đẩy nhanh tiến độ xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết.
Công văn nêu: Trong thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều chỉ đạo, phân công các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuy nhiên, đến nay, vẫn còn 100 văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết đã có hiệu lực nhưng chưa được ban hành thuộc trách nhiệm chủ trì soạn thảo của các Bộ: Giáo dục và Đào tạo, Nông nghiệp và Môi trường, Tài chính, Công Thương, Xây dựng, Khoa học và Công nghệ, Nội vụ, Công an, Ngoại giao, Y tế, Quốc phòng.
Để đẩy nhanh tiến độ xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quán triệt sâu sắc và nhận thức đầy đủ, thống nhất về vị trí, vai trò của việc xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo tinh thần của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; xác định đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm tính đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi, hiệu lực, hiệu quả thi hành của hệ thống pháp luật. Việc chậm ban hành văn bản quy định chi tiết sẽ làm giảm hiệu lực, hiệu quả của luật, pháp lệnh, nghị quyết, các quy định của luật, pháp lệnh, nghị quyết không được triển khai đầy đủ, kịp thời, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Phải đề cao trách nhiệm và tăng cường tính chủ động
Đồng thời, các bộ, cơ quan ngang bộ phải đề cao trách nhiệm và tăng cường tính chủ động trong xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết, trong đó chú trọng một số nội dung sau:
- Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm trách nhiệm của người đứng đầu, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về chất lượng, tiến độ công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết và việc chậm ban hành văn bản quy định chi tiết.
- Bộ, cơ quan ngang bộ được giao chủ trì soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thẩm tra của Quốc hội và các bộ, ngành có liên quan trong quá trình xây dựng hồ sơ dự án, xác định rõ, đầy đủ nội dung giao quy định chi tiết, dự kiến hợp lý thời điểm có hiệu lực của luật, pháp lệnh, nghị quyết để bảo đảm tính khả thi trong việc xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết.
- Chủ động rà soát, kịp thời phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp trong việc lập Danh mục văn bản quy định chi tiết các luật, pháp lệnh, nghị quyết. Chủ động xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết, khắc phục triệt để tình trạng chậm ban hành, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết trong thời gian tới.
Tập trung xử lý dứt điểm tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản
Cùng với đó, các bộ, cơ quan ngang bộ phải tập trung xử lý dứt điểm tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết:
- Ưu tiên bố trí thời gian, nguồn lực cho việc xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy định chi tiết, nhất là 100 văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết đã có hiệu lực và 12 văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2026; bảo đảm chất lượng, tiến độ theo đúng quy định.
- Chủ động rà soát, công bố văn bản quy định chi tiết, quy định biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết tiếp tục có hiệu lực theo quy định tại khoản 2 Điều 57 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, không để xảy ra "khoảng trống" pháp lý trong tổ chức thực hiện.
- Phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan trong quá trình soạn thảo, thẩm định, hoàn thiện hồ sơ dự thảo văn bản quy định chi tiết nhằm kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc phát sinh, bảo đảm tiến độ, chất lượng theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách lĩnh vực kết quả thực hiện trước ngày 25 hằng tháng, đồng gửi Bộ Tư pháp tổng hợp, theo dõi chung để báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước ngày 01 của tháng tiếp theo.
Đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng thẩm định các văn bản
Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Tư pháp tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng thẩm định các văn bản quy định chi tiết; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc soạn thảo các văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội để bảo đảm tiến độ, chất lượng dự thảo văn bản quy định chi tiết, tổng hợp tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Văn phòng Chính phủ phối hợp chặt chẽ với cơ quan chủ trì soạn thảo trong quá trình hoàn thiện dự thảo văn bản quy định chi tiết theo ý kiến của Lãnh đạo Chính phủ, Thành viên Chính phủ theo đúng Quy chế làm việc của Chính phủ; kịp thời báo cáo Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách lĩnh vực chỉ đạo hoặc tổ chức họp để xử lý các vấn đề còn ý kiến khác nhau, các vấn đề phát sinh trong quá trình hoàn thiện dự thảo văn bản quy định chi tiết.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 15/01/2026 bổ nhiệm ông Đặng Ngọc Điệp, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giữ chức Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường./.