• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/1/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/1/2026.

10/01/2026 19:32
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/1/2026- Ảnh 1.

Nghị định quy định 08 tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt.

Quy định việc giao nhiệm vụ, đặt hàng và tiêu chí lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam được giao nhiệm vụ, đặt hàng cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 4/2026/NĐ-CP ngày 10/01/2026 quy định việc giao nhiệm vụ, đặt hàng và tiêu chí lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam được giao nhiệm vụ, đặt hàng cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt.

Nghị định này quy định việc giao nhiệm vụ, đặt hàng và tiêu chí lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam được giao nhiệm vụ, đặt hàng cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt thuộc chương trình, dự án mua sắm, đầu tư xây dựng đường sắt sử dụng ngân sách nhà nước, không bao gồm ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên.

Danh mục dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt được giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng cho tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam

Tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp

Nghị định quy định nhà cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt phải đáp ứng đồng thời 08 tiêu chí sau:

1. Có chức năng, nhiệm vụ đối với tổ chức hoặc đăng ký ngành nghề kinh doanh, giấy phép hoạt động đối với doanh nghiệp phù hợp với nhiệm vụ được giao, đặt hàng.

2. Không đang trong quá trình thực hiện thủ tục giải thể hoặc bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; không thuộc trường hợp mất khả năng thanh toán theo quy định của pháp luật về phá sản.

3. Về năng lực tài chính:

a) Giá trị tài sản ròng của nhà cung cấp trong năm tài chính gần nhất phải không âm; có đủ năng lực về khả năng thu xếp vốn chủ sở hữu, huy động vốn vay, nguồn vốn hợp pháp khác đủ để thực hiện nhiệm vụ được giao, đặt hàng;

b) Có doanh thu bình quân hằng năm của 03 năm tài chính gần nhất có giá trị tối thiểu là 8.000 tỷ đồng đối với doanh nghiệp thành lập từ 03 năm trở lên hoặc có vốn điều lệ tối thiểu là 3.000 tỷ đồng đối với doanh nghiệp thành lập dưới 03 năm;

c) Đối với nhà cung cấp có vốn đầu tư nước ngoài thì phải bảo đảm có ít nhất một nhà đầu tư trong nước sở hữu trên 35% vốn điều lệ.

4. Về cơ sở vật chất: có đủ năng lực về nhà xưởng, kho, bãi, máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ phục vụ sản xuất, thử nghiệm bảo đảm đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ được giao, đặt hàng, trong đó ưu tiên lựa chọn nhà cung cấp có cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu và phát triển dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt hiện đại, phù hợp với nhiệm vụ được giao hoặc đặt hàng.

5. Về năng lực nhân sự: có đủ đội ngũ nhân sự, chuyên gia, cán bộ kỹ thuật, người lao động có năng lực quản lý, nghiên cứu, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề bảo đảm đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ được giao, đặt hàng.

6. Về năng lực, kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ:

a) Có giải pháp kỹ thuật, quy trình sản xuất, công nghệ tiên tiến, có khả năng tùy chỉnh, thay đổi; có cam kết và có kế hoạch cụ thể thực hiện nội địa hóa sản phẩm, bảo đảm tỷ lệ nội địa hóa tăng dần theo thời gian, phù hợp với lộ trình công bố của Bộ Công Thương;

b) Đã thực hiện ít nhất một nhiệm vụ hoặc dự án trong lĩnh vực tương tự hoặc chứng minh kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực, ngành nghề cung cấp dịch vụ, hàng hóa tương tự hoặc có thỏa thuận hợp tác với đối tác có kinh nghiệm trong việc cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt được giao, đặt hàng. Trường hợp đối tác là tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài phải có cam kết chuyển giao công nghệ toàn bộ hoặc một phần cho nhà cung cấp theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ;

c) Có năng lực, kế hoạch nhận chuyển giao công nghệ để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt được giao, đặt hàng;

d) Có cam kết bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ đúng tiến độ; có kế hoạch huy động nguồn lực đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ được giao, đặt hàng;

đ) Có chính sách bảo hành, bảo trì, hỗ trợ khách hàng rõ ràng và lâu dài.

7. Về chất lượng sản phẩm: phải đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo yêu cầu cơ quan giao nhiệm vụ, đặt hàng; có quy trình kiểm soát chất lượng sản phẩm; có chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy (đối với hàng hóa đã từng sản xuất) hoặc cam kết cung cấp chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy khi bàn giao sản phẩm (đối với hàng hóa sản xuất lần đầu) phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo yêu cầu của cơ quan giao nhiệm vụ, đặt hàng do tổ chức đánh giá sự phù hợp cấp theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, trong đó chi phí thử nghiệm, chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy và các chi phí khác có liên quan do nhà cung cấp chi trả.

8. Về chi phí và giá cả: bảo đảm giá cả cạnh tranh, công khai, minh bạch và không vượt dự toán dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Trình tự thực hiện giao nhiệm vụ, đặt hàng cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt

1. Căn cứ quy mô, tính chất dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt của chương trình, dự án, chủ đầu tư chương trình, dự án tổ chức lập, trình người quyết định đầu tư chương trình, dự án phê duyệt kế hoạch giao nhiệm vụ, đặt hàng cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt.

2. Kế hoạch giao nhiệm vụ, đặt hàng cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt gồm: tên nhiệm vụ; tên cơ quan giao nhiệm vụ, đặt hàng; đơn giá, giá đặt hàng trong trường hợp đặt hàng (nếu có) hoặc dự toán kinh phí; hình thức thực hiện; thời gian tổ chức lựa chọn nhà cung cấp; thời gian cung cấp dịch vụ, hàng hóa, trong đó:

a) Tên nhiệm vụ phải thể hiện tính chất, nội dung và phạm vi cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt. Trường hợp nhiệm vụ gồm nhiều phần riêng biệt, cần nêu tên phần nhiệm vụ tương ứng và nội dung cơ bản của từng phần.

b) Dự toán kinh phí là toàn bộ chi phí để thực hiện việc cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt, đã bao gồm chi phí dự phòng, thuế, phí, lệ phí, xác định trong tổng kinh phí của chương trình, tổng mức đầu tư của dự án được lập, phê duyệt theo quy định của pháp luật về đường sắt, pháp luật về xây dựng, Nghị quyết của Quốc hội và pháp luật khác có liên quan.

c) Hình thức thực hiện: mỗi dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt phải xác định cụ thể hình thức thực hiện là giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng.

d) Thời gian tổ chức lựa chọn nhà cung cấp bao gồm: thời gian nhà cung cấp nộp hồ sơ đề xuất; thời gian đánh giá, lựa chọn nhà cung cấp; thời gian xử lý tình huống (nếu có); thời gian thẩm định, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà cung cấp.

đ) Thời gian cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt được tính từ ngày quyết định giao nhiệm vụ hoặc hợp đồng đặt hàng có hiệu lực đến ngày nghiệm thu hoàn thành cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt, không bao gồm thời gian bảo hành (nếu có).

3. Căn cứ kế hoạch giao nhiệm vụ, đặt hàng cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt được cấp có thẩm quyền phê duyệt:

Cơ quan giao nhiệm vụ, đặt hàng xác định nội dung nhiệm vụ giao hoặc đặt hàng và yêu cầu cụ thể đối với từng tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp theo quy định tại Điều 4 của Nghị định này; gửi hồ sơ yêu cầu đến một nhà cung cấp dự kiến được giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng. Ưu tiên gửi hồ sơ yêu cầu đến nhà cung cấp có quyền sở hữu trí tuệ đối với dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt hoặc đã thực hiện hoàn thành cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt có tính chất tương tự, quy mô tương đương hoặc lớn hơn so với nhiệm vụ xem xét giao hoặc đặt hàng.(*)

Nhà cung cấp lập, gửi một bộ hồ sơ đề nghị tham gia cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt đến cơ quan giao nhiệm vụ, đặt hàng.

Hồ sơ gồm: văn bản đề nghị tham gia cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt (trong đó có cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, hợp pháp đối với các hồ sơ, tài liệu cung cấp); hồ sơ, tài liệu chứng minh việc đáp ứng các tiêu chí theo yêu cầu của cơ quan giao nhiệm vụ, đặt hàng quy định tại (*); các tài liệu khác có liên quan (nếu có).

4. Cơ quan giao nhiệm vụ, đặt hàng thành lập Hội đồng thẩm định lựa chọn nhà cung cấp như sau:

Thành phần Hội đồng: Chủ tịch Hội đồng là lãnh đạo của cơ quan giao nhiệm vụ, đặt hàng; các thành viên Hội đồng do cơ quan giao nhiệm vụ, đặt hàng quyết định, trong đó phải có đại diện Bộ Xây dựng, Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ;

Nhiệm vụ của Hội đồng: kiểm tra năng lực của nhà cung cấp, kiến nghị cơ quan giao nhiệm vụ, đặt hàng quyết định việc lựa chọn nhà cung cấp.

5. Cơ quan giao nhiệm vụ, đặt hàng quyết định giao nhiệm vụ đối với nhà cung cấp là tổ chức, doanh nghiệp trực thuộc hoặc thương thảo, ký kết hợp đồng đặt hàng với nhà cung cấp là tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam được lựa chọn hoặc chỉ định.

6. Trường hợp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ định nhà cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt phục vụ chương trình, dự án đường sắt, cơ quan giao nhiệm vụ, đặt hàng quyết định giao nhiệm vụ hoặc thương thảo, ký kết hợp đồng đặt hàng theo quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 5 nêu trên.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/1/2026- Ảnh 2.

Ngân hàng Chính sách xã hội là ngân hàng chính sách do Thủ tướng Chính phủ thành lập, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước.

Quy định về tổ chức, hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội 

Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2026/NĐ-CP ngày 10/1/2026 quy định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội.

Ngân hàng Chính sách xã hội có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội. Trụ sở Sở Giao dịch, Trung tâm Đào tạo, Trung tâm Công nghệ thông tin tại Thủ đô Hà Nội.

Trụ sở Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội đặt tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội cấp tỉnh), cơ sở đào tạo, các đơn vị trực thuộc khác đặt tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Trụ sở Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội trực thuộc Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội cấp tỉnh (Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội) đặt tại một số xã, phường và đặc khu.

Ngân hàng Chính sách xã hội hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận

Ngân hàng Chính sách xã hội là ngân hàng chính sách do Thủ tướng Chính phủ thành lập, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước.

Nhà nước là chủ sở hữu của Ngân hàng Chính sách xã hội. Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chủ sở hữu nhà nước đối với Ngân hàng Chính sách xã hội.

Hội đồng quản trị là cơ quan đại diện trực tiếp của chủ sở hữu nhà nước tại Ngân hàng Chính sách xã hội, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chủ sở hữu nhà nước quy định tại Nghị định này. Hội đồng quản trị là cơ quan được giao chủ trì, đầu mối của chủ sở hữu nhà nước, thực hiện chức năng quản lý nói chung và thực hiện công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội.

Ngân hàng Chính sách xã hội được Chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán

Ngân hàng Chính sách xã hội được ngân sách nhà nước cấp vốn điều lệ, vốn hỗ trợ đầu tư cho các đối tượng chính sách khác, cấp bù lãi suất tín dụng ưu đãi, phí quản lý; được Chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán; được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước khác theo quy định của pháp luật; không phải thực hiện dự trữ bắt buộc và không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi.

Ngân hàng Chính sách xã hội có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có tài sản, có con dấu, được mở tài khoản thanh toán và thực hiện các dịch vụ ngân hàng về thanh toán, ngân quỹ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và quy định của pháp luật có liên quan.

Vốn điều lệ của Ngân hàng Chính sách xã hội do ngân sách nhà nước cấp và được bổ sung từ ngân sách nhà nước, các nguồn tài chính hợp pháp khác.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Chính sách xã hội

Ngân hàng Chính sách xã hội có nhiệm vụ thực hiện cho vay và các hoạt động ngân hàng khác theo quy định tại Nghị định này và pháp luật có liên quan; tiếp nhận, huy động, quản lý và sử dụng nguồn vốn, tài sản (nếu có) theo đúng quy định của pháp luật; thực hiện chế độ báo cáo, kế toán theo quy định tại Nghị định này và quy định pháp luật có liên quan.

Ngân hàng Chính sách xã hội chịu sự thanh tra, kiểm tra, kiểm toán của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; thực hiện các nhiệm vụ khác được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao và tổ chức và hoạt động theo quy định tại Nghị định này để thực hiện các nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao.

Cơ cấu tổ chức quản lý

Cơ cấu tổ chức quản lý của Ngân hàng Chính sách xã hội gồm: Hội đồng quản trị và bộ phận giúp việc; Ban Đại diện Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội các cấp; Ban Kiểm soát; Tổng Giám đốc.

Hệ thống tổ chức của Ngân hàng Chính sách xã hội như sau:

- Hội sở chính gồm: Hội đồng quản trị và bộ phận giúp việc, Ban Kiểm soát, Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng, Văn phòng và các Ban chuyên môn nghiệp vụ.

- Sở Giao dịch, Trung tâm Đào tạo, Trung tâm Công nghệ thông tin, gồm: Giám đốc, Phó Giám đốc và Phòng chuyên môn nghiệp vụ.

- Cấp tỉnh gồm:

Ban Đại diện Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Ban Đại diện Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội cấp tỉnh)

Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội cấp tỉnh, gồm: Giám đốc, Phó Giám đốc và các Phòng chuyên môn nghiệp vụ.

- Cấp xã gồm:

Ban Đại diện Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội xã, phường, đặc khu (Ban Đại diện Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội cấp xã).

Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội gồm: Giám đốc, Phó Giám đốc và các Tổ chuyên môn nghiệp vụ. Phòng giao dịch thực hiện hoạt động tín dụng chính sách xã hội và các hoạt động ngân hàng trên địa bàn xã hoặc liên xã, phường hoặc liên phường và đặc khu. Số lượng phòng giao dịch do Hội đồng quản trị quyết định. Phòng giao dịch tổ chức, bố trí cán bộ thực hiện hoạt động giao dịch tại các điểm giao dịch đặt tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm phù hợp khác do Ủy ban nhân dân cấp xã bố trí.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 10/1/2026.

Quyết định số 16/2003/QĐ-TTg ngày 22/1/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội hết hiệu lực từ ngày 10/1/2026, trừ Điều 12 và Chương IV cho đến khi có quy định khác của cấp có thẩm quyền.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/1/2026- Ảnh 3.

Ban hành tiêu chí nhân lực công nghệ số chất lượng cao.

Quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức hướng dẫn thi hành Luật Công nghiệp công nghệ số 

Chính phủ ban hành Nghị định số 353/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức hướng dẫn thi hành Luật Công nghiệp công nghệ số.

Nghị định này quy định chi tiết Điều 13, Điều 19, Điều 20 của Luật Công nghiệp công nghệ số về hoạt động công nghiệp công nghệ số; tiêu chí nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao; thu hút trọng dụng nhân tài công nghệ số.

Đồng thời, quy định biện pháp thi hành Điều 8 của Luật Công nghiệp công nghệ số và quy định chi tiết Điều 21 của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về thử nghiệm có kiểm soát sản phẩm, dịch vụ ứng dụng công nghệ số.

Nghị định áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong nước và ngoài nước tham gia hoặc có liên quan đến công nghiệp công nghệ số tại Việt Nam.

Tiêu chí nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao

Nghị định quy định các tiêu chí nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao đối với 05 đối tượng cụ thể như sau:

Đối tượng là nhân sự đang làm việc tại doanh nghiệp công nghệ số

Nghị định quy định nhân sự đang làm việc tại doanh nghiệp công nghệ số là nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao khi đáp ứng một trong các tiêu chí sau:

Là chủ tịch hội đồng thành viên, chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc điều hành hoặc tương đương của doanh nghiệp công nghệ số trong 03 năm gần nhất có 01 năm doanh thu đạt từ 26.000 tỷ đồng trở lên theo báo cáo tài chính được công bố.

Là nhân sự tham gia trực tiếp vào hoạt động công nghiệp công nghệ số tại doanh nghiệp thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Là người Việt Nam có thu nhập bình quân từ hoạt động công nghiệp công nghệ số trong 02 năm gần nhất đạt tối thiểu 05 lần GDP bình quân đầu người của Việt Nam theo công bố của Việt Nam.

b) Là người nước ngoài, đang làm việc tại quốc gia phát triển theo công bố của Liên hợp quốc (United Nations) hoặc Ngân hàng Thế giới (World Bank), có thu nhập bình quân từ hoạt động công nghiệp công nghệ số trong 02 năm gần nhất đạt tối thiểu 03 lần GDP bình quân đầu người tại quốc gia mà người đó làm việc theo công bố của quốc gia đó.

c) Là người nước ngoài, không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này, có thu nhập bình quân từ hoạt động công nghiệp công nghệ số trong 02 năm gần nhất đạt tối thiểu 05 lần GDP bình quân đầu người tại quốc gia mà người đó làm việc theo công bố của quốc gia đó.

Đối tượng là người tốt nghiệp tại các cơ sở giáo dục đại học

Nghị định quy định người mới tốt nghiệp trong vòng 03 năm tại các cơ sở giáo dục đại học là nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao khi đáp ứng một trong các tiêu chí sau:

Tốt nghiệp đại học loại giỏi trở lên các ngành đúng và các ngành gần đào tạo về công nghệ số, công nghệ thông tin tại cơ sở giáo dục đại học thuộc danh sách 500 cơ sở giáo dục đại học hàng đầu thế giới theo một trong những bảng xếp hạng được công bố gần nhất của các tổ chức: Quacquarelli Symonds của Anh, Times Higher Education của Anh, Shanghai Ranking Consultancy của Trung Quốc, U.S. News & World Report của Mỹ hoặc bảng xếp hạng theo công bố của Bộ Giáo dục và Đào tạo (nếu có).

Tốt nghiệp đại học loại xuất sắc trở lên các ngành đúng và các ngành gần đào tạo về công nghệ số, công nghệ thông tin tại cơ sở giáo dục đại học thuộc danh sách 50 cơ sở giáo dục hàng đầu của bảng xếp hạng có uy tín trong nước theo pháp luật về giáo dục đại học.

Đối tượng là người làm việc, giảng dạy, nghiên cứu tại cơ sở giáo dục đại học, tổ chức nghiên cứu

Nghị định quy định người làm việc, giảng dạy, nghiên cứu tại cơ sở giáo dục đại học, tổ chức nghiên cứu là nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao khi đáp ứng một trong các tiêu chí sau:

Là trưởng khoa, viện trưởng hoặc tương đương trở lên đang làm việc, quản lý các khoa, viện, trường hoặc cơ sở nghiên cứu về công nghệ số, công nghệ thông tin của cơ sở giáo dục đại học thuộc danh sách 500 cơ sở giáo dục đại học hàng đầu thế giới theo một trong những bảng xếp hạng được công bố gần nhất của các tổ chức: Quacquarelli Symonds của Anh, Times Higher Education của Anh, Shanghai Ranking Consultancy của Trung Quốc, U.S. News & World Report của Mỹ hoặc bảng xếp hạng theo công bố của Bộ Giáo dục và Đào tạo (nếu có).

Là giảng viên, nhà khoa học có trình độ tiến sĩ trở lên, có kinh nghiệm tối thiểu 03 năm làm việc, nghiên cứu về công nghệ số, công nghệ thông tin tại các cơ sở giáo dục đại học thuộc danh sách 500 cơ sở giáo dục đại học hàng đầu thế giới theo một trong những bảng xếp hạng được công bố gần nhất của các tổ chức: Quacquarelli Symonds của Anh, Times Higher Education của Anh, Shanghai Ranking Consultancy của Trung Quốc, U.S. News & World Report của Mỹ hoặc bảng xếp hạng theo công bố của Bộ Giáo dục và Đào tạo (nếu có).

Đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức đang công tác tại cơ quan nhà nước

Nghị định quy định cán bộ, công chức, viên chức đang công tác tại cơ quan nhà nước là nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao khi đáp ứng một trong các tiêu chí sau:

Giữ chức vụ từ trưởng phòng hoặc tương đương tại cơ quan cấp Vụ, Cục thuộc Bộ, cấp Sở trở lên trực tiếp xây dựng, quản lý, thực thi chính sách về công nghiệp công nghệ số, công nghiệp công nghệ thông tin; nghiên cứu, phát triển và ứng dụng về công nghệ số, công nghệ thông tin.

Là công chức, viên chức đã được tiếp nhận, bổ nhiệm trong vòng không quá 03 năm theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 19 của Luật Công nghiệp công nghệ số.

Là công chức, viên chức đáp ứng quy định tại Điều 10 của Nghị định này.

Đối tượng là cá nhân có đóng góp nổi bật trong lĩnh vực công nghệ số

Nghị định quy định cá nhân có đóng góp nổi bật trong lĩnh vực công nghệ số là nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao khi đáp ứng một trong các tiêu chí sau:

Trong vòng 05 năm gần nhất có bài báo khoa học được công bố trên các tạp chí thuộc nhóm Q1 theo Scopus/Web of Science.

Là tác giả hoặc đồng tác giả của ít nhất 01 đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ theo pháp luật về sở hữu trí tuệ; đồng thời đối tượng đó phải là công nghệ số, sản phẩm, dịch vụ công nghệ số thuộc Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hoặc thuộc Danh mục sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành.

Nhân lực đáp ứng tiêu chí nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao theo quy định tại Nghị định này được hưởng chính sách ưu đãi quy định tại Điều 19 của Luật Công nghiệp công nghệ số.

Các bộ, ngành, địa phương trong phạm vi ngành, lĩnh vực, địa bàn được phân công có trách nhiệm ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành hướng dẫn về quy trình, thủ tục áp dụng chính sách ưu đãi (nếu có) và tổ chức thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao theo quy định tại Điều 19 của Luật Công nghiệp công nghệ số đối với nhân lực đáp ứng tiêu chí quy định tại Nghị định này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/1/2026- Ảnh 4.

Thành lập Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia

Thành lập Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia 

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 10/1/2026 thành lập Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia (Hội đồng).

Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia được thành lập để thẩm định, công nhận kết quả thăm dò khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; phối hợp với các bộ, ngành và địa phương trong thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến công tác thẩm định, công nhận kết quả thăm dò khoáng sản.

Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia có con dấu hình quốc huy.

Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng

Hội đồng có nhiệm vụ thẩm định, công nhận trữ lượng, tài nguyên khoáng sản trong báo cáo kết quả thăm dò khoáng sản, báo cáo kết quả thăm dò bổ sung nâng cấp trữ lượng khoáng sản và báo cáo kết quả thăm dò bổ sung xác định trữ lượng khoáng sản đi kèm hoặc các khoáng sản mới phát hiện (báo cáo kết quả thăm dò khoáng sản) thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của Bộ Nông nghiệp và Môi trường làm cơ sở cho công tác quản lý, lập dự án đầu tư khai thác khoáng sản và thiết kế khai thác, phát triển mỏ; xem xét, thống nhất chỉ tiêu tạm thời tính trữ lượng khoáng sản trong quá trình thẩm định báo cáo kết quả thăm dò khoáng sản.

Hội đồng phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến công tác thẩm định, công nhận trữ lượng, tài nguyên khoáng sản trong báo cáo kết quả thăm dò khoáng sản.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường là Chủ tịch Hội đồng

Thành phần Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia gồm:

Chủ tịch Hội đồng là ông Trần Đức Thắng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Phó Chủ tịch Hội đồng là ông Lê Công Thành, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Các Ủy viên gồm: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, Thứ trưởng Bộ Tài chính; ông Trương Thanh Hoài, Thứ trưởng Bộ Công Thương; ông Nguyễn Văn Sinh, Thứ trưởng Bộ Xây dựng; ông Bùi Thế Duy, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; ông Nguyễn Trường Giang, Chánh Văn phòng Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường; ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Môi trường; ông Bùi Tất Hợp, Phó Vụ trưởng Vụ Công nghiệp, Văn phòng Chính phủ; ông Trịnh Hải Sơn, Viện trưởng Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Bộ Nông nghiệp và Môi trường; ông Lê Văn Lượng, Phó Chánh Văn phòng Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường; ông Đào Bùi Din, Trưởng phòng Địa chất, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Môi trường; ông Lương Quang Khang, Trưởng phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Mỏ - Địa chất.

Chế độ làm việc và trách nhiệm của Hội đồng

Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia hoạt động thông qua phiên họp của Hội đồng do Chủ tịch Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia triệu tập. Các thành viên Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia làm việc theo chế độ kiêm nhiệm và được hưởng các chế độ theo quy định hiện hành.

Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia chịu trách nhiệm về sự phù hợp của trữ lượng, tài nguyên khoáng sản đã công nhận với hồ sơ đề nghị công nhận kết quả thăm dò khoáng sản và các quy định của pháp luật về phân cấp trữ lượng và tài nguyên khoáng sản tại thời điểm công nhận.

Chủ tịch Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia ban hành quy chế làm việc của Hội đồng; có thể mời các chuyên gia trong lĩnh vực địa chất và khoáng sản và các lĩnh vực khác có liên quan tham gia vào việc thẩm định trữ lượng, tài nguyên khoáng sản trong báo cáo kết quả thăm dò khoáng sản.

Cơ quan giúp việc Hội đồng

Văn phòng Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia là cơ quan giúp việc Hội đồng, đặt tại Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Tổ chức và hoạt động của Văn phòng Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia do Chủ tịch Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia quy định.

Văn phòng Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia có con dấu và tài khoản theo quy định của pháp luật. Biên chế Văn phòng Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia thuộc biên chế công chức của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/1/2026- Ảnh 5.

Triển khai các dự án đường sắt phải bảo đảm "3 có", "2 không"

Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính - Trưởng Ban Chỉ đạo tại Phiên họp thứ năm Ban Chỉ đạo các công trình, dự án quan trọng quốc gia lĩnh vực đường sắt

Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 17/TB-VPCP ngày 9/1/2026 kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính - Trưởng Ban Chỉ đạo tại Phiên họp thứ năm Ban Chỉ đạo các công trình, dự án quan trọng quốc gia lĩnh vực đường sắt.

Thông báo nêu: Thời gian qua, Bộ Xây dựng cùng với sự phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương đã chủ động, nỗ lực triển khai các nhiệm vụ và đạt được một số kết quả quan trọng: (i) cơ bản hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách, như đã xây dựng và trình ban hành kịp thời các văn bản pháp luật như Luật Đường sắt (sửa đổi), Luật Xây dựng (sửa đổi), 05 Nghị quyết của Quốc hội, các Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ, tạo hành lang pháp lý căn bản để triển khai các dự án; quá trình triển khai nếu có vướng mắc thì tiếp tục ban hành các văn bản phù hợp theo cơ chế đặc thù đã được Quốc hội cho phép; (ii) Quốc hội đã phê duyệt chủ trương đầu tư 02 dự án: đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam với tốc độ thiết kế là 350km/h và dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; (iii) công tác tổ chức, chỉ đạo đi vào nề nếp: Ban Chỉ đạo đã được thành lập, hoạt động hiệu quả, định kỳ họp và giao 75 nhiệm vụ cụ thể; các bộ, ngành địa phương đã nghiêm túc triển khai thực hiện, trong đó sau kỳ họp thứ 4 (ngày 23 tháng 10 năm 2025) đã giao 47 nhiệm vụ và đã hoàn thành 38/47 nhiệm vụ (đang triển khai 05 nhiệm vụ là các nhiệm vụ chỉ đạo, điều hành thường xuyên; 03 nhiệm vụ chưa đáp ứng tiến độ: việc đàm phán với phía Trung Quốc về phương án chuyển giao công nghệ Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; đàm phán Hiệp định vay vốn Trung Quốc về Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng); (iv) khởi công một số khu tái định cư; bố trí vốn GPMB cho nhiều địa phương của 02 Dự án đường sắt vào đúng dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám; đã khởi công Dự án thành phần 1 tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng đúng dịp ngày 19 tháng 12 năm 2025; (v) từng bước chuẩn bị về điều kiện kỹ thuật và nhân lực (đã và đang đào tạo trên 320 người có trình độ từ kỹ sư trở lên về đường sắt tốc độ cao; đã ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn cho đường sắt tốc độ cao; phê duyệt và bắt đầu triển khai Đề án đào tạo nguồn nhân lực với quy mô lớn, có tầm nhìn dài hạn); (vi) công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế được đẩy mạnh; (vii) thiết lập và vận hành cơ chế hợp tác với phía Trung Quốc thông qua Ủy ban liên hợp, tạo đà cho các dự án kết nối.

Thủ tướng Chính phủ biểu dương các địa phương đã tích cực triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để bảo đảm đủ điều kiện khởi công dự án thành phần 1 của Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng...

8 yêu cầu chung

Thủ tướng nhấn mạnh, thời gian tới là giai đoạn quan trọng đối với việc triển khai các dự án, trong khi các dự án đều có quy mô rất lớn, yêu cầu kỹ thuật hiện đại, phức tạp…

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ban Chỉ đạo, các Bộ, ngành, địa phương liên quan:

Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc tinh thần "6 rõ": "rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền". Mỗi công việc phải được giao cụ thể, theo dõi sát sao và đánh giá định kỳ. Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ xây dựng mẫu báo cáo công việc, nhiệm vụ để thuận lợi trong công tác tổng hợp, đánh giá; từng phiên họp cần chỉ rõ cơ quan, đơn vị thực hiện tốt và cơ quan chưa hoàn thành.

Hai là, thực hiện nghiêm túc "3 tập trung": Tập trung lãnh đạo, tập trung lực lượng, tập trung nguồn lực cho các dự án trọng điểm này. Người đứng đầu phải trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm.

Ba là, triển khai với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, sớm đưa các công trình vào khai thác, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân.

Bốn là, việc triển khai các dự án phải bảo đảm "3 có" và "2 không", trong đó "3 có": có lợi ích của Nhà nước, có lợi ích của người dân, có lợi ích của doanh nghiệp và "2 không": không tham nhũng, tiêu cực; không để thất thoát, lãng phí tài sản, công sức, tiền bạc của các chủ thể có liên quan.

Năm là, khẩn trương ban hành các Nghị định: (i) hướng dẫn Luật đường sắt; (ii) quy định việc giao nhiệm vụ, đặt hàng và tiêu chí lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam được giao nhiệm vụ, đặt hàng cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt; (iii) quy định chi tiết và biện pháp thi hành về thiết kế kỹ thuật tổng thể của dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt quốc gia, tuyến đường sắt địa phương và phê duyệt Đề án tái cơ cấu Tổng công ty đường sắt Việt Nam do Bộ Tài chính trình (Văn phòng Chính phủ báo cáo Thủ tướng Chính phủ về nội dung này vào sáng ngày 07 tháng 01 năm 2026). Các công việc trên phải hoàn thành trước ngày 15 tháng 01 năm 2026.

Sáu là, các địa phương chủ động giải phóng mặt bằng; trường hợp thiếu vốn phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15 tháng 01 năm 2026. Bộ Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm hướng dẫn, giải quyết các vướng mắc (nếu có) liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và đất rừng, đất lúa.

Bảy là, về đào tạo nguồn nhân lực: Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng Công ty đường sắt Việt Nam triển khai hiệu quả Đề án đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam; có lộ trình, kế hoạch cụ thể để đào tạo kịp thời nguồn nhân lực phục vụ xây dựng, quản lý, vận hành khai thác các tuyến đường sắt (Tổng công ty đường sắt Việt Nam rà soát, báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng để kịp thời bố trí vốn, đặt hàng, giao nhiệm vụ theo quy định để đào tạo nhân lực), nhất là tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.

Tám là, về phát triển công nghiệp đường sắt, chuyển giao công nghệ: Tổng công ty đường sắt Việt Nam tiếp tục thực hiện nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ giao về triển khai Tổ hợp công nghiệp đường sắt. Bộ Tài chính và Bộ Xây dựng theo chức năng nhiệm vụ hướng dẫn, quyết định theo thẩm quyền về việc giao Tổng công ty đường sắt Việt Nam làm cơ quan chủ quản thực hiện Dự án này. Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội và Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam chủ động thực hiện các nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ giao về việc tiếp nhận, phát triển, làm chủ công nghệ hệ thống thông tin, tín hiệu và hệ thống điều khiển của các dự án đường sắt.

Thủ tướng cũng giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành, địa phương đối với từng dự án. Cụ thể:

Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam

Về hướng tuyến, Bộ Xây dựng khẩn trương xác định hướng tuyến của Dự án để giao cho địa phương sớm triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư (dự án thành phần 1 đã được Quốc hội cho phép tách thành dự án độc lập), trong đó nghiên cứu theo hướng mở rộng phạm vi hơn so với tiêu chuẩn.

Về lựa chọn công nghệ, Bộ Xây dựng khẩn trương thực hiện chỉ đạo của Thường trực Chính phủ tại Thông báo số 03/TB-VPCP ngày 04 tháng 01 năm 2026; bám sát chỉ đạo của Bộ Chính trị, chủ trương của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ (căn cứ vào thực tiễn, yêu cầu, khả năng; chính trị, ngoại giao; tốc độ thiết kế 350km/h), đề xuất rõ lựa chọn công nghệ gì và nêu rõ cơ sở, đánh giá kỹ các yếu tố về kinh tế kỹ thuật, quản lý vận hành khai thác, chuyển giao công nghệ…; báo cáo Thường trực Chính phủ trước ngày 15 tháng 01 năm 2026 xem xét, báo cáo cấp có thẩm quyền.

Về hình thức đầu tư, trên cơ sở phương án công nghệ được lựa chọn, Bộ Xây dựng chủ trì xây dựng tiêu chí, quy trình lựa chọn hình thức đầu tư (công, PPP, kinh doanh) một cách khoa học, minh bạch, bảo đảm lợi ích quốc gia, chống tham nhũng, tiêu cực (đánh giá tác động, bảo đảm lợi ích hài hòa giữa các bên); báo cáo Ban Chỉ đạo tại phiên họp kỳ tới.

Về kiến nghị đề xuất chỉ định thầu lựa chọn nhà thầu Tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án, Thủ tướng yêu cầu Bộ Xây dựng khẩn trương quyết định theo thẩm quyền và quy trình, thủ tục theo đúng quy định; trường hợp vướng mắc trong công tác đấu thầu của Dự án, báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền để giải quyết trong tháng 01 năm 2026.

Dự án tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng

Về tiến độ dự án thành phần 2: Bộ Xây dựng chỉ đạo hoàn thành Báo cáo NCKT trong tháng 3/2026, phê duyệt dự án vào tháng 7/2026, khởi công các hạng mục chính từ tháng 12/2026.

Về đàm phán vay vốn, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Xây dựng đẩy nhanh đàm phán Hiệp định trong quý I/2026.

Bộ Tài chính chịu trách nhiệm cân đối bảo đảm đủ vốn triển khai Dự án, trong đó sử dụng các nguồn vốn: tăng thu và tiết kiệm chi hằng năm, vốn đầu tư công trung hạn…

Về đàm phán Hiệp định xây dựng cầu đường sắt qua biên giới Việt – Trung, Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao và các bộ có liên quan đẩy nhanh đàm phán Hiệp định trong quý I/2026.

Về giải phóng mặt bằng (GPMB), các địa phương và EVN khẩn trương triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và di dời hạ tầng kỹ thuật điện; định kỳ báo cáo Ban Chỉ đạo (qua Bộ Xây dựng) về tiến độ thực hiện trước ngày 25 hằng tháng và báo cáo tại cuộc họp của Ban Chỉ đạo.

Tuyến đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn và Hải Phòng – Móng Cái

Bộ Xây dựng phối hợp UBND tỉnh Quảng Ninh và các cơ quan liên quan thực hiện chỉ đạo của Thường trực Chính phủ tại cuộc họp ngày 23/12/2025 (Thông báo số 03/TB-VPCP) thực hiện quy trình, thủ tục để giao cho tỉnh Quảng Ninh làm chủ đầu tư tuyến Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái theo quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh chủ động phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính để thực hiện các thủ tục và tổ chức triển khai thực hiện Dự án khi được cấp có thẩm quyền giao.

Bộ Xây dựng đẩy nhanh việc ký kết Thỏa thuận hỗ trợ kỹ thuật với phía Trung Quốc, hoàn thành lập quy hoạch trong năm 2026.

Về các dự án đường sắt đô thị

Thành phố Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh chủ động triển khai các tuyến theo thẩm quyền, bảo đảm tiến độ, chất lượng; rà soát và áp dụng tiêu chuẩn đồng bộ, hiện đại, hướng tới phát triển công nghiệp đường sắt trong nước.

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, 02 Thành phố rà soát xây dựng, ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn chung về đường sắt đô thị để bảo đảm tính liên thông, đồng bộ, tính phổ quát, hiện đại và từng bước phát triển công nghiệp đường sắt trong nước; hoàn thành trong tháng 6 năm 2026.

TP. Hồ Chí Minh khẩn trương hoàn thiện thủ tục, khởi công tuyến Bến Thành – Tham Lương trước ngày 19/01/2026; ưu tiên tuyến đường sắt kết nối Cảng hàng không Quốc tế Long Thành và Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất.

Các Bộ: Quốc phòng, Tài chính, Xây dựng phối hợp hỗ trợ tháo gỡ vướng mắc về GPMB, vốn, thủ tục liên quan theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Trong đó, Bộ Quốc phòng hỗ trợ UBND TP Hà Nội thu hồi đất quốc phòng để xây dựng Depot 02 và đường dẫn vào Depot 02 của dự án thuộc địa bàn xã Hòa Lạc của tuyến Văn Cao - Hòa Lạc và GPMB Tiểu đoàn D10 của tuyến Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/1/2026- Ảnh 6.

Tháo gỡ vướng mắc các dự án đất đai và triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia

Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi 

Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 18/TB-VPCP ngày 9/1/2026 kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nhiều vướng mắc đã được xử lý

Tại Thông báo trên, Thủ tướng Chính phủ khẳng định: Việc quán triệt 2 Nghị quyết (Nghị quyết số 170/2024/QH15 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa và Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi giai đoạn 2026-2035) có ý nghĩa rất quan trọng, đây là các Nghị quyết mang tính đột phá tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV vừa qua.

Nhiều vướng mắc đã được xử lý, dự án tiếp tục được triển khai đã mang lại kết quả thiết thực, giải phóng nguồn lực cho đất nước, doanh nghiệp và người dân, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt trên 8% và hai con số những năm tiếp theo; đồng thời tạo không gian, dư địa cho sự phát triển, tránh thất thoát, lãng phí tài nguyên; bảo đảm tính kỷ luật, kỷ cương, nghiêm minh của pháp luật; tạo động lực cho người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư kích hoạt nguồn lực cho phát triển đất nước.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, quá trình triển khai trên cả nước vẫn còn nhiều dự án bị đình trệ, vướng mắc chủ yếu về pháp lý, liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai, quy hoạch, trong đó có nhiều dự án có dấu hiệu sai phạm, nguy cơ gây lãng phí do một số cơ chế chính sách chưa phù hợp thực tiễn, một số địa phương nôn nóng thúc đẩy tăng trưởng và các doanh nghiệp còn thiếu kinh nghiệm, nguồn lực triển khai dự án. Việc triển khai 03 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn vừa qua gặp một số tồn tại, hạn chế như: Các Chương trình còn chồng chéo, trùng lặp về nội dung, đối tượng, nguồn lực còn phân tán; một số chỉ tiêu chưa hoàn thành mục tiêu Chính phủ giao, kết quả giải ngân chậm, hệ thống cơ chế, chính sách, hướng dẫn còn phức tạp, chậm được ban hành.

Để tiếp tục khắc phục những tồn tại trên, Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra các quan điểm và giao nhiệm vụ cho các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục triển khai thực hiện 2 Nghị quyết trên.

Tháo gỡ vướng mắc đối với các dự án đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra

Cụ thể, về việc tháo gỡ vướng mắc đối với các dự án đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra: Nghị quyết số 170/2024/QH15 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội có nhiều chính sách đặc thù, mang tính đột phá, sau thời gian triển khai thực hiện Kết luận số 77-KL/TW ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 170/2024/QH15 chúng ta đã đạt được một số kết quả tích cực. Đây là công cụ quan trọng, hiệu quả, góp phần khơi thông nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội. Trên cơ sở xử lý dứt điểm các sai phạm theo kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án, nhiều vướng mắc đã được xử lý, dự án tiếp tục được triển khai mang lại kết quả, giải phóng nguồn lực cho cả nhà nước, doanh nghiệp và người dân.

Đến nay có 5.203 dự án đã được tháo gỡ và đã có định hướng giải pháp tháo gỡ, trong đó 3.289 dự án đất đai với tổng mức đầu tư khoảng 1,67 triệu tỷ đồng, khoảng hơn 70 nghìn ha đất đã được tháo gỡ khó khăn vướng mắc, tiếp tục triển khai hoàn thành, sớm đưa vào khai thác. Các địa phương đã tiếp tục rà soát, cập nhật trên Hệ thống cơ sở dữ liệu của Ban Chỉ đạo về giải quyết các vấn đề khó khăn vướng mắc các dự án tồn đọng theo Quyết định số 751/QĐ-TTg ngày 11 tháng 4 năm 2025 (Ban chỉ đạo 751) ghi nhận 2.991 dự án có khó khăn, vướng mắc tồn đọng, kéo dài cần tháo gỡ với quy mô diện tích đất khoảng hơn 153 nghìn ha với tổng mức đầu tư là 2,46 triệu tỷ đồng.

Các bộ, ngành không trực tiếp phê duyệt, chủ trì thực hiện dự án cụ thể mà cần đẩy mạnh phân cấp cho địa phương

Quan điểm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ là việc tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho các dự án là vấn đề khó, phức tạp, nhạy cảm; không cầu toàn, không nóng vội nhưng không bỏ lỡ cơ hội. Các bộ, cơ quan, địa phương phải phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm để giải quyết dứt điểm các công việc phát sinh. Đây là nhiệm vụ phải làm thường xuyên, liên tục, tổng thể trên tất cả các lĩnh vực, kịp thời đề xuất bổ sung các cơ chế, chính sách trong quá trình thực hiện để khơi thông, giải phóng nguồn lực đang tồn đọng, giải quyết bức xúc của người dân và doanh nghiệp.

Phải xử lý dứt điểm vướng mắc của các dự án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình; không né tránh, không đùn đẩy trách nhiệm. Người đứng đầu các bộ, ngành địa phương phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ về vấn đề này. Trên cơ sở báo cáo của Bộ Tài chính về tình hình, kết quả triển khai tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án tồn đọng, kéo dài (theo Đề án 751), các bộ, ngành, địa phương chủ động, phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính, Ban Chỉ đạo 751 để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ quan trọng và cấp bách này.

Đối với những dự án cần thanh tra, kiểm tra, kiểm toán thì khẩn trương tiếp tục làm, không né tránh, tập trung đề xuất giải pháp tháo gỡ, giải phóng nguồn lực, khắc phục khó khăn, vướng mắc và hậu quả để sớm đưa dự án vào khai thác, tránh để lãng phí, thất thoát.

Tinh thần làm việc phải có quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, làm việc nào ra việc đó; phân công 6 rõ: Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ sản phẩm và thường xuyên giám sát, kiểm tra, siết chặt kỷ luật, kỷ cương. Các bộ, ngành không trực tiếp phê duyệt, chủ trì thực hiện các dự án, các dự án cụ thể cần đẩy mạnh phân cấp cho địa phương theo tinh thần địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm.

Khẩn trương đề xuất phương hướng, giải pháp tháo gỡ nhóm các vấn đề khó khăn, vướng mắc chưa có quy định của pháp luật

Để góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong những năm tiếp theo, tạo không gian, dư địa cho sự phát triển, tránh thất thoát, lãng phí tài nguyên đất đai và củng cố niềm tin cho doanh nghiệp và nhà đầu tư, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Thanh tra Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các bộ, cơ quan, địa phương khẩn trương tổng hợp, trình Chính phủ ban hành danh mục các dự án, đất đai đáp ứng đủ điều kiện áp dụng cơ chế, chính sách tại Nghị quyết số 170/2024/QH15 theo đúng nhiệm vụ được Quốc hội giao tại mục 14, Nghị quyết số 265/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 để các địa phương có cơ sở triển khai ngay trong tháng 01 năm 2026; trình Chính phủ ban hành Nghị quyết về cơ chế tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án BT chuyển tiếp trong tháng 01 năm 2026; rà soát, tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ thông báo danh mục các dự án khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền xử lý của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương được tổng hợp trên Hệ thống 751 để các bộ, cơ quan, địa phương chủ động xử lý theo thẩm quyền; tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả xử lý các dự án khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền xử lý của các bộ, cơ quan, địa phương; đảm bảo mở Hệ thống 751 để các bộ, cơ cơ quan, địa phương tiếp tục cập nhật danh mục, thông tin các dự án theo phân loại trên Hệ thống 751 và hướng dẫn của Bộ Tài chính.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng và cơ quan liên quan hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện các quy định của Nghị quyết số 170/2024/QH15 ngày 30 tháng 11 năm 2024, Nghị định số 76/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao trong tháng 01 năm 2026; trong quá trình triển khai thực hiện nếu có nội dung phát sinh vướng mắc kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền để xem xét.

Các bộ, cơ quan, địa phương khẩn trương đề xuất phương hướng, giải pháp tháo gỡ nhóm các vấn đề khó khăn, vướng mắc chưa có quy định của pháp luật, báo cáo rõ về thẩm quyền xử lý, trên cơ sở đó khẩn trương báo cáo các cấp có thẩm quyền cho chủ trương, cơ chế tháo gỡ.

Các bộ, cơ quan, địa phương phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trên, rà soát danh mục các dự án, đất đai đề nghị cho phép áp dụng cơ chế, chính sách được Quốc hội quyết nghị tại mục 14, Nghị quyết số 265/2025/QH15 đảm bảo bám sát nguyên tắc tại Nghị quyết số 170/2024/QH15 của Quốc hội và Kết luận số 182-KL/TW của Bộ Chính trị và trên Hệ thống 751; chủ động tổ chức thực hiện tháo gỡ ngay cho các dự án thuộc thẩm quyền xử lý; báo cáo kịp thời các vấn đề vượt thẩm quyền; trong đó khuyến khích việc khắc phục hậu quả theo quy định của Đảng và Nhà nước; tiếp tục rà soát các dự án, cập nhật thông tin, dữ liệu lên Hệ thống 751 theo hướng dẫn của Bộ Tài chính; không được để sót, để lọt danh mục các dự án cần được tháo gỡ khó khăn, vướng mắc mà đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2025 chưa được xử lý và có giải pháp giải quyết, nhất là các dự án đã có kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án, tình huống pháp lý tương tự.

Tập trung ưu tiên cho xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo

Về việc triển khai Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi giai đoạn 2026-2035 (Chương trình), Thông báo nêu rõ việc triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia trong đoạn 2021-2025 cơ bản đã đạt và vượt mục tiêu với nhiều kết quả quan trọng như: (1) Chương trình xây dựng nông thôn mới có 4/7 chỉ tiêu vượt và 3/7 chỉ tiêu cơ bản hoàn thành; (2) Chương trình giảm nghèo bền vững có 4/5 chỉ tiêu đạt và vượt; (3) Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có 6/9 chỉ tiêu đạt và vượt. Diện mạo nông thôn từng bước thay đổi rõ rệt, Việt Nam trở thành hình mẫu thế giới về thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ, trong đó có giảm nghèo, phát triển nông thôn. Việc hợp nhất 03 Chương trình có ý nghĩa hết sức quan trọng, tập trung đầu tư cho vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nâng cao hiệu quả thực thi, nhanh chóng đưa các chính sách hỗ trợ đi vào cuộc sống, bảo đảm người dân được thụ hưởng kịp thời, thực chất.

Thủ tướng Chính phủ khẳng định: Nghị quyết số 257/2025/QH15 của Quốc hội là chủ trương lớn, có ý nghĩa quan trọng nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy phát triển bền vững nền nông nghiệp, đảm bảo an sinh và phát triển kinh tế - xã hội vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, được Nhân dân đồng thuận, tích cực hưởng ứng, tạo thành phong trào sâu rộng trong suốt thời gian qua. Trách nhiệm của chúng ta hiện nay là phải tiếp tục đổi mới tư duy, hành động quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả hơn; khơi dậy và phát huy mạnh mẽ hơn nữa tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên của mỗi địa phương, mỗi cộng đồng, từng người dân, nhằm xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, văn minh, thoát nghèo bền vững; mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Nghị quyết số 257/2025/QH15 đã quy định rõ phạm vi, đối tượng, thời gian thực hiện để tập trung ưu tiên cho xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng an toàn khu, vùng biên giới và hải đảo, phân cấp, phân quyền tối đa cho địa phương trên nguyên tắc "địa phương quyết - địa phương làm - địa phương chịu trách nhiệm". Trung ương quản lý, ban hành cơ chế, thiết kế công cụ kiểm tra, giám sát; Chính phủ giao tổng mức vốn, địa phương căn cứ điều kiện thực tế chủ động quyết định phương án phân bổ, lồng ghép nguồn lực để đạt mục tiêu chung được giao. Các cơ quan, chủ thể liên quan phải vào cuộc nghiêm túc, phát huy tính sáng tạo, chủ động, gương mẫu, quyết tâm cao nhất, nỗ lực lớn nhất, hành động quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm; tăng cường giám sát, kiểm tra và sơ kết, đánh giá theo quy định nhằm tháo gỡ ngay các vướng mắc.

Đẩy nhanh tiến độ giao dự toán, kế hoạch ngân sách trung ương năm 2026 để thực hiện trong tháng 01 năm 2026

Để Nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, Thủ tướng Chính phủ đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo và các cơ quan liên quan khẩn trương xây dựng Báo cáo nghiên cứu khả thi, ban hành Quyết định đầu tư Chương trình giai đoạn 2026-2030 trong tháng 01 năm 2026 trên cơ sở phân cấp, phân quyền tối đa cho các địa phương; trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành Quyết định quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình giai đoạn 2026-2030 trong tháng 01 năm 2026, tập trung ưu tiên phân bổ ngân sách trung ương cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới và hải đảo nhằm tạo chuyển biến rõ nét trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá và phân hạng sản phẩm OCOP theo hướng kế thừa, phù hợp, đồng bộ và nâng cao chất lượng, đặc trưng, thương hiệu gắn với yêu cầu thị trường, thúc đẩy theo hướng xanh, bền vững.

Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ động phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các bộ, ngành liên quan hướng dẫn tổ chức thực hiện các nội dung liên quan đến vùng dân tộc thiểu số, miền núi. Trong đó, công bố danh sách thôn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, thôn đặc biệt khó khăn và xã khu vực I, II, III vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2026-2030, thời hạn hoàn thành trong tháng 01 năm 2026.

Bộ Tài chính đẩy nhanh tiến độ giao dự toán, kế hoạch ngân sách trung ương năm 2026 để thực hiện trong tháng 01 năm 2026; xây dựng và ban hành sớm Thông tư quy định về quản lý sử dụng kinh phí thực hiện Chương trình, bảo đảm ưu tiên đầu tư cho khu vực khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Các bộ, cơ quan liên quan tập trung, khẩn trương ban hành các văn bản của các bộ, cơ quan hướng dẫn chi tiết, định mức, tiêu chuẩn kỹ thuật thực hiện các nội dung của Chương trình, Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030 được giao chủ trì theo hướng tích hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương trong quá trình triển khai, bảo đảm minh bạch, khách quan dựa trên việc ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống giám sát, đánh giá liên thông.

Tập trung xây dựng các mô hình bền vững, tăng trưởng xanh

Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố quan tâm, quyết liệt chỉ đạo thực hiện một số nội dung sau: Tuyên truyền, quán triệt nhận thức của cả hệ thống chính trị, người dân về chủ trương của Đảng, Nhà nước đối với Chương trình; tập trung xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng vùng, từng địa phương; tránh dàn trải, hình thức, ưu tiên địa bàn khó khăn, vùng lõi nghèo, xã, thôn đặc biệt khó khăn; quyết liệt chỉ đạo, thực hiện Chương trình theo tinh thần "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm", gắn với trách nhiệm người đầu.

Tập trung xây dựng các mô hình bền vững, tăng trưởng xanh và liên kết chuỗi giá trị; cụ thể hóa việc áp dụng các nội dung tiêu chí nông thôn mới phù hợp với điều kiện thực tế và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; thay đổi tư duy, nâng cao nhận thức, động viên, khích lệ để người nông dân tự tin thoát nghèo, thi đua làm giàu, sản xuất xanh, bền vững, chuyển đổi số; khẩn trương thúc đẩy triển khai và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2025 đạt 100% trong năm 2026 để hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu còn lại của 03 Chương trình giai đoạn 2021-2025./.