• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chuẩn hóa sản phẩm OCOP để mở rộng thị trường

(Chinhphu.vn) - Chuẩn hóa sản phẩm OCOP không chỉ là hoàn thiện bao bì, nhãn mác hay nâng hạng sao. Để có thể đi xa hơn trên thị trường, sản phẩm cần được chuẩn hóa từ vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, chất lượng, truy xuất nguồn gốc đến bảo quản, đóng gói và khả năng cung ứng ổn định.

29/09/2026 15:30
Chuẩn hóa sản phẩm OCOP để mở rộng thị trường- Ảnh 1.

Mỗi sản phẩm OCOP cần được thích ứng trên nhiều phương diện: phù hợp thị hiếu nhưng vẫn giữ giá trị đặc trưng - Ảnh: Chinhphu.vn/Đỗ Hương

Chuẩn hóa không chỉ là "khoác áo mới"

Theo ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng Quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), chuẩn hóa sản phẩm không đơn thuần là “khoác” một bao bì đẹp. Sản phẩm phải được sản xuất theo quy trình, bảo đảm an toàn, giữ được chất lượng đặc trưng và phù hợp với từng thị trường.

Đặc biệt, với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, không thể áp dụng một mô hình cho tất cả. Sản phẩm vừa phải đáp ứng thị hiếu, vừa giữ được giá trị riêng; đồng thời cần lựa chọn đúng kênh tiêu thụ thay vì mặc định đưa vào hệ thống siêu thị hiện đại.

Câu chuyện của Hợp tác xã Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng (Lạng Sơn) cho thấy rõ khoảng cách này.

Giám đốc hợp tác xã Lê Đức Hải cho biết đơn vị đang phát triển các giống na đặc sản theo hướng xanh, sạch, hữu cơ. Sản phẩm được quảng bá qua Zalo, Facebook, TikTok Shop và các hoạt động xúc tiến thương mại, nhưng đầu ra chính vẫn là thương lái thu mua tại vườn.

Na chỉ bảo quản được khoảng một tuần, trong khi hợp tác xã chưa có khu tập kết chung. Thành viên phải tận dụng sân hoặc dựng nhà lều để gom hàng.

Muốn đưa na vào phân khúc quà tặng, siêu thị hay chuỗi hoa quả sạch, hợp tác xã dự kiến phải hoàn thiện đồng bộ từ chứng nhận OCOP, tem, mã QR, bao bì, nhận diện đến kho tập kết và khu đóng hàng.

Theo ông Đào Đức Huấn, đây chính là điểm cần nhìn nhận khi nói về chuẩn hóa. Khoảng cách từ một sản phẩm tốt đến một đơn hàng ổn định không nằm ở riêng chiếc tem hay hộp đựng.

Khi siêu thị đặt hàng, hợp tác xã phải bảo đảm cùng lúc chất lượng, số lượng, quy cách đóng gói và thời gian giao hàng. Với thương mại điện tử, chủ thể còn cần nhân lực công nghệ, logistics và khả năng tập hợp sản phẩm từ các thành viên.

Chuẩn hóa cả quy trình và năng lực cung ứng

Tại TPHCM, ông Vũ Ngọc Đăng, Chi cục trưởng Chi cục Phát triển Nông thôn, cho biết thành phố chú trọng chất lượng sản phẩm, mẫu mã, bao bì, xúc tiến thương mại và mức độ hài lòng của khách hàng, thay vì chạy theo số lượng.

Cách làm cũng được chuyển từ kiểm tra, giám sát sang hỗ trợ trực tiếp. Cán bộ được đưa xuống cơ sở để hướng dẫn chủ thể về quy trình sản xuất, hồ sơ OCOP, truy xuất nguồn gốc, sở hữu trí tuệ, nhãn hàng hóa, bao bì, môi trường và tiêu thụ sản phẩm.

Theo ông Đào Đức Huấn, điểm nghẽn của nhiều sản phẩm không nằm ở chất lượng hay vùng nguyên liệu mà ở năng lực tổ chức sản xuất và tư duy thị trường của hợp tác xã.

Muốn có đơn hàng thường xuyên, chủ thể phải chuyển từ tư duy “sản xuất rồi chờ người đến mua” sang chủ động tìm hiểu nhu cầu thị trường. Sản phẩm bán cho khách du lịch, vào siêu thị hay làm quà tặng sẽ có yêu cầu khác nhau về quy cách, giá bán và cách giới thiệu.

Với nông sản tươi, bài toán còn nằm ở công nghệ bảo quản và logistics. Thời gian sử dụng ngắn khiến sản phẩm khó đi xa và dễ chịu áp lực tiêu thụ trong mùa vụ. Nếu chỉ thay đổi bao bì mà không giải quyết bảo quản, vận chuyển và nguồn cung, khả năng mở rộng thị trường vẫn hạn chế.

Ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), cho rằng để có đơn hàng thường xuyên, hợp tác xã phải chuẩn hóa đồng bộ chất lượng, sản lượng, chủng loại, thời điểm giao hàng và quy cách đóng gói. Đồng thời, chủ thể cần có dữ liệu, chứng từ, truy xuất nguồn gốc và khả năng điều chỉnh theo phản hồi của khách hàng.

Thực tế cho thấy chứng nhận OCOP có thể mở thêm cánh cửa thị trường, nhưng để giữ được thị trường, sản phẩm phải đáp ứng yêu cầu cụ thể của từng kênh phân phối.

Ông Phan Minh Tiến, Giám đốc Công ty CP Dừa Nước Việt Nam, cho biết chứng nhận OCOP giúp sản phẩm từ dừa nước thuận lợi hơn khi tiếp cận các cửa hàng đặc sản, điểm bán OCOP, nhà hàng, khách sạn, resort, siêu thị và hệ thống phân phối. Doanh nghiệp của ông cũng có thêm cơ hội tiếp cận các chương trình hỗ trợ công nghệ, máy móc và xây dựng thương hiệu.

Tương tự, bà Phan Ngọc Diệu, Giám đốc sản xuất Công ty CP Yến Đảo Cần Giờ, cho biết sản phẩm đạt OCOP 4 sao giúp doanh nghiệp tăng cơ hội hợp tác với các chuỗi siêu thị và nâng nhận diện với người tiêu dùng.

Tuy nhiên, chuẩn hóa cần tính đến đặc thù từng nhóm sản phẩm. Ông Lê Bá Linh, Giám đốc Công ty TNHH MTV Sơn mài Mỹ nghệ Tương Bình Hiệp, cho biết doanh nghiệp mất khoảng 6 tháng chuẩn bị hồ sơ nâng hạng OCOP 5 sao. Khó khăn lớn là sản phẩm thủ công mỹ nghệ chưa có bộ tiêu chí riêng. Do đó, ông Linh đề xuất có chính sách phù hợp hơn với ngành thủ công mỹ nghệ, ngành nghề nông thôn và các làng nghề, nơi phần lớn doanh nghiệp, hộ gia đình có quy mô nhỏ và siêu nhỏ.

Từ thực tế trên, ông Đào Đức Huấn cho rằng định hướng phát triển OCOP thời gian tới cần bắt đầu từ vùng nguyên liệu ổn định, khoa học công nghệ, chất lượng sản phẩm, thương hiệu và năng lực quản trị.

Nói cách khác, chuẩn hóa không phải là công đoạn cuối cùng để “làm đẹp” sản phẩm trước khi đưa ra thị trường. Đó là một quá trình xuyên suốt từ sản xuất đến tiêu thụ. Khi chất lượng, quy trình, truy xuất, bảo quản, bao bì và năng lực cung ứng cùng được chuẩn hóa, sản phẩm OCOP mới có thể đi xa hơn và quan trọng hơn là giữ được thị trường, duy trì được đơn hàng và tạo giá trị bền vững cho người sản xuất.

Đỗ Hương