• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Hình thành hệ sinh thái mật mã dân sự "Make in Vietnam"

(Chinhphu.vn) - Phó Thủ tướng Phan Văn Giang ký Quyết định số 1226/QĐ-TTg ngày 7/7/2026 phê duyệt Đề án “Khuyến khích xã hội hóa hoạt động nghiên cứu, phát triển ứng dụng mật mã dân sự giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035" (Đề án).

08/07/2026 15:58
Hình thành hệ sinh thái mật mã dân sự "Make in Vietnam"- Ảnh 1.

Khuyến khích xã hội hóa hoạt động nghiên cứu, phát triển ứng dụng mật mã dân sự.

Mục tiêu của Đề án là Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy xã hội hóa hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng mật mã dân sự; huy động hiệu quả nguồn lực của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ, cơ sở đào tạo tham gia phát triển công nghệ mật mã; từng bước làm chủ một số công nghệ mật mã cốt lõi; hình thành hệ sinh thái mật mã dân sự "Make in Vietnam" có năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu và góp phần giữ vững chủ quyền số quốc gia.

Đến năm 2030 từng bước làm chủ một số công nghệ mật mã cốt lõi

Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 từng bước làm chủ một số công nghệ mật mã cốt lõi, bao gồm thuật toán, giải pháp, hệ thống quản lý khóa và các thành phần bảo mật nền tảng. Tăng tỷ lệ sản phẩm mật mã dân sự do tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong nước nghiên cứu, thiết kế và làm chủ công nghệ. Hình thành đội ngũ nhân sự có trình độ cao trong lĩnh vực mật mã dân sự, đáp ứng yêu cầu phát triển dài hạn. Ưu tiên phát triển các sản phẩm mật mã "Make in Vietnam" đáp ứng yêu cầu sử dụng trong các hệ thống thông tin quan trọng, giảm dần phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài.

Tăng số lượng và nâng cao năng lực của doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ tham gia nghiên cứu, phát triển và cung cấp sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự. Thiết lập và vận hành hiệu quả cơ chế liên kết Nhà nước - Nhà trường (Viện nghiên cứu) - Doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm.

Hình thành 10-15 doanh nghiệp có năng lực cung cấp sản phẩm

Đồng thời, mở rộng ứng dụng sản phẩm mật mã dân sự nội địa trong cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và các hệ thống thông tin quan trọng. Tăng trưởng ổn định thị trường sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Tham gia đóng góp, đề xuất hoặc đồng chủ trì xây dựng tối thiểu 01 tiêu chuẩn, khuyến nghị kỹ thuật quốc tế liên quan đến mật mã dân sự.

Phấn đấu đến năm 2030, tỷ lệ sản phẩm mật mã dân sự nội địa được sử dụng trong các hệ thống thông tin quan trọng đạt tối thiểu 20 - 30% vào năm 2030. Tối thiểu 50 - 70 sản phẩm mật mã dân sự "Make in Vietnam" được nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa.

Hình thành 10-15 doanh nghiệp có năng lực cung cấp sản phẩm, giải pháp mật mã dân sự cung cấp cho thị trường. Tỷ lệ giảm phụ thuộc vào sản phẩm, công nghệ mật mã nhập khẩu trong một số lĩnh vực trọng điểm đạt 20 - 30%. Tối thiểu 03 - 05 phòng thử nghiệm đạt chuẩn quốc gia, từng bước tiệm cận chuẩn quốc tế.

Đến năm 2035, đào tạo và phát triển ít nhất 5.000 chuyên gia, kỹ sư chất lượng cao chuyên sâu về mật mã

Định hướng đến năm 2035, đào tạo và phát triển ít nhất 5.000 chuyên gia, kỹ sư chất lượng cao chuyên sâu về mật mã, an toàn thông tin và vi mạch mật mã. Có ít nhất 20% nhân sự trong ngành sở hữu các chứng chỉ bảo mật và mật mã được công nhận toàn cầu (như CISSP, CISM, hoặc các chứng chỉ chuyên sâu về bảo mật, an toàn thông tin). Đưa chuyên ngành bảo mật, an toàn thông tin vào giảng dạy chính thức tại các trường đại học kỹ thuật trọng điểm. Hình thành ít nhất 3-5 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về nghiên cứu mật mã ứng dụng và mật mã hậu lượng tử (PQC).

Đề án đưa ra một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cần thực hiện như: Hoàn thiện hành lang pháp lý, đẩy mạnh triển khai cơ chế, chính sách; phát triển năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi; tổ chức, xây dựng hạ tầng thử nghiệm, đánh giá sự phù hợp; phát triển thị trường và thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm mật mã dân sự "Make in Vietnam"; phát triển nguồn nhân lực và hệ sinh thái; truyền thông, phổ biến chính sách, nâng cao nhận thức và sơ kết, tổng kết; bảo đảm nguồn lực triển khai Đề án.

Phát triển năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi

Để phát triển năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, Đề án tổ chức triển khai các chương trình, nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển trọng điểm: thuật toán và giao thức mật mã; hệ thống quản lý khóa và hạ tầng khóa công khai; mô-đun phần cứng bảo mật và thành phần bảo mật nền tảng; các công nghệ mật mã thế hệ mới (PQC, QKD) theo định hướng phát triển dài hạn.

Thúc đẩy liên kết giữa cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trong thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển; tham gia hoặc đề xuất Việt Nam tham gia các thỏa thuận quốc tế về thừa nhận, công nhận lẫn nhau kết quả đánh giá sự phù hợp sản phẩm mật mã dân sự và trao đổi hợp tác quốc tế về mật mã dân sự.

Thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm mật mã dân sự "Make in Vietnam"

Thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm mật mã dân sự "Make in Vietnam" bằng cách thiết lập và triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) ứng dụng mật mã dân sự theo ngành, lĩnh vực; công bố danh mục bài toán thực tiễn để doanh nghiệp tham gia (danh mục bài toán, nhu cầu ứng dụng, báo cáo kết quả, phương án nhân rộng).

Đẩy mạnh sử dụng sản phẩm mật mã dân sự nội địa đã được kiểm định, đánh giá đạt yêu cầu trong các hệ thống thông tin quan trọng (lộ trình bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn mật mã quốc gia do Ban Cơ yếu Chính phủ nghiên cứu, phát triển, làm chủ; tích hợp vào sản phẩm mật mã dân sự nội địa trong các hệ thống thông tin trọng yếu.

Hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chuẩn hóa sản phẩm, hoàn thiện tài liệu kỹ thuật và xúc tiến thương mại; thúc đẩy chuyển giao công nghệ sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự...

Phương Nhi