Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ

Mỗi cấp học, học sinh nội trú được cấp một lần bằng hiện vật gồm: Chăn, màn và các đồ dùng cá nhân khác với mức kinh phí là 2.050.000 đồng/học sinh.
Theo đó, đối tượng áp dụng gồm học sinh học tại các trường phổ thông nội trú và trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới đất liền.
Về hỗ trợ tiền ăn, Nghị định quy định mỗi học sinh bán trú buổi trưa được hỗ trợ tiền ăn trưa mỗi tháng là 450.000 đồng và được hưởng không quá 9 tháng/năm học.
Mỗi học sinh nội trú được hỗ trợ tiền ăn mỗi tháng là 1.170.000 đồng và được hưởng không quá 9 tháng/năm học.
Về hỗ trợ gạo, mỗi học sinh bán trú buổi trưa được hỗ trợ mỗi tháng 8 kg gạo và được hưởng không quá 9 tháng/năm học.
Mỗi học sinh nội trú được hỗ trợ mỗi tháng 15 kg gạo và được hưởng không quá 9 tháng/năm học.
Về hỗ trợ trang cấp đồ dùng cá nhân và học phẩm, mỗi năm học, học sinh trường phổ thông nội trú được hỗ trợ tiền mua 02 bộ quần áo đồng phục và học phẩm gồm: Vở, giấy, bút và các dụng cụ học tập khác với mức kinh phí là 2.050.000 đồng/học sinh.
Mỗi cấp học, học sinh nội trú được cấp một lần bằng hiện vật gồm: Chăn, màn và các đồ dùng cá nhân khác với mức kinh phí là 2.050.000 đồng/học sinh.
Học sinh lớp 1 là người dân tộc thiểu số có học tiếng Việt trước khi vào học chương trình lớp 1 thì được hưởng thêm 1 tháng hỗ trợ tiền ăn, hỗ trợ gạo nêu trên.
Nghị định nêu rõ, trường phổ thông nội trú được Nhà nước ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị dạy học đồng bộ, hiện đại, đầy đủ công năng phục vụ việc học tập, rèn luyện thể chất, văn hóa, văn nghệ, bồi dưỡng lý tưởng, đạo đức, lòng yêu nước và các điều kiện sinh hoạt, bảo đảm tuyệt đối an toàn, đáp ứng điều kiện cơ sở vật chất quy định trong quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông nội trú, tiêu chuẩn cơ sở vật chất trường phổ thông và Nghị định của Chính phủ quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục.
Trường phổ thông nội trú được cấp kinh phí để vận hành, bảo trì công trình, máy móc, thiết bị duy trì hoạt động thường xuyên bảo đảm ổn định, lâu dài với mức 100.000 đồng/1 học sinh/tháng và được hưởng không quá 9 tháng/năm học.
Ngoài kinh phí được cấp cho hoạt động thường xuyên theo quy định áp dụng đối với trường phổ thông trên cùng địa bàn xã do cấp có thẩm quyền phê duyệt, trường phổ thông nội trú còn được cấp kinh phí thực hiện nhiệm vụ của trường chuyên biệt như sau:
a) Kinh phí tổ chức khám sức khỏe hằng năm cho học sinh, lập tủ thuốc dùng chung, mua các loại thuốc thông thường. Các mức kinh phí được cấp bằng mức chính sách cùng loại đối với trường phổ thông dân tộc nội trú quy định tại Nghị định số 66/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2025 của Chính phủ quy định chính sách cho trẻ em nhà trẻ, học sinh, sinh viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo và cơ sở giáo dục có trẻ em nhà trẻ, học sinh hưởng chính sách.
b) Kinh phí để tổ chức hoạt động giáo dục đặc thù, văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao và mua sắm, bổ sung dụng cụ, thiết bị phục vụ cho các hoạt động của học sinh với mức hỗ trợ là 540.000 đồng/học sinh/năm học.
c) Kinh phí mua sắm, bổ sung, sửa chữa dụng cụ nhà ăn, nhà bếp; kinh phí làm thẻ học sinh và phù hiệu cá nhân, công tác tuyển sinh đầu cấp, thi tốt nghiệp, thi cuối khóa. Các mức kinh phí được cấp bằng mức chính sách cùng loại đối với trường phổ thông dân tộc nội trú quy định tại Nghị định số 66/2025/NĐ-CP.
d) Tiền điện, nước phục vụ học tập và sinh hoạt, kinh phí phục vụ nấu ăn, kinh phí thực hiện quản lý học sinh ngoài giờ lên lớp đối với học sinh nội trú được cấp bằng mức hỗ trợ cùng loại đối với trường phổ thông dân tộc nội trú quy định tại Nghị định số 66/2025/NĐ-CP.
Tiền điện, nước phục vụ học tập và sinh hoạt, kinh phí phục vụ nấu ăn, kinh phí thực hiện quản lý học sinh ngoài giờ lên lớp đối với học sinh bán trú buổi trưa được cấp bằng 50% định mức hỗ trợ cùng loại đối với học sinh nội trú.
Trong trường hợp mất điện, mất nước do điều kiện khách quan thì nhà trường được sử dụng kinh phí để mua thiết bị thắp sáng và mua nước sạch, thiết bị dẫn, chứa nước sạch cho học sinh.
Trường hợp có tổ chức học tiếng Việt cho học sinh lớp 1 là người dân tộc thiểu số trước khi vào học chương trình lớp 1 thì được hưởng các chính sách quy định tại điểm d này thêm 1 tháng theo thực tế hoạt động.
Theo Nghị định, việc phê duyệt học sinh nội trú, học sinh bán trú buổi trưa được thực hiện trong kỳ tuyển sinh của trường phổ thông nội trú và học sinh được hưởng chính sách đến hết cấp học. Trường hợp học sinh tự nguyện thôi hưởng chính sách thì cha, mẹ, người giám hộ có trách nhiệm thông báo với nhà trường bằng văn bản.
Số lượng học sinh được hưởng chính sách học sinh nội trú phải phù hợp các điều kiện bảo đảm chất lượng của nhà trường, phù hợp với thực tiễn khó khăn về địa hình và khoảng cách địa lý của địa phương và thực hiện theo chỉ tiêu học sinh nội trú của mỗi trường được phê duyệt trong kế hoạch tuyển sinh hàng năm.
Nghị định quy định rất cụ thể quy trình tổ chức cấp phát gạo cho học sinh, từ xây dựng kế hoạch, báo cáo nhu cầu của địa phương, quyết định xuất hỗ trợ gạo của Bộ Tài chính, cho tới phương thức vận chuyển, giao nhận, thời gian giao nhận, quản lý xuất cấp và sử dụng gạo hỗ trợ học sinh, chất lượng gạo xuất và công tác quản lý chất lượng gạo…
Nghị định 188/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ 15/7/2026.