• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Hoàn thiện chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển

(Chinhphu.vn) - Chiều 29/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu thảo luận tại hội trường về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi).

29/10/2026 19:29
Hoàn thiện chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển - Ảnh 1.

Quang cảnh phiên thảo luận tại hội trường chiều 29/10 - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Các ý kiến tập trung vào việc hoàn thiện cơ chế chuyển tiếp khi sắp xếp các quỹ hỗ trợ, làm rõ tiêu chí xác định quy mô doanh nghiệp và đổi mới phương thức thực hiện chính sách, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận, thụ hưởng của doanh nghiệp.

Đề nghị bảo đảm tính liên tục, khả thi của chính sách hỗ trợ

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (TP. Hải Phòng) góp ý về quy định chuyển tiếp khi sắp xếp các quỹ hỗ trợ và cách tính chỉ tiêu mua sắm công dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Đối với Điều 35 của dự thảo Luật, đại biểu đề nghị quy định rõ căn cứ hoạt động và trách nhiệm quản lý các quỹ trong thời gian chờ sắp xếp; phân biệt việc tiếp tục thực hiện các hợp đồng vay, bảo lãnh đang có hiệu lực với việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ đang xét, hồ sơ cần bổ sung và nhu cầu hỗ trợ phát sinh trong giai đoạn chuyển tiếp.

Việc sáp nhập, giải thể các quỹ cần gắn với phương án chuyển tiếp được phê duyệt, xác định rõ chủ thể tiếp nhận vốn, tài sản, công nợ, hợp đồng, hồ sơ và nhiệm vụ; quy định trách nhiệm, thời điểm chuyển giao, bảo đảm thực hiện các cam kết hợp pháp và giải quyết hồ sơ theo điều kiện, thẩm quyền, nguồn lực tương ứng. Các quy trình kỹ thuật được đề nghị giao Chính phủ quy định chi tiết.

Đối với Điều 12, đại biểu đề nghị thống nhất cách tính chỉ tiêu mua sắm công theo giá trị mua sắm như dự thảo Luật, không lựa chọn giữa tỉ lệ giá trị và tỉ lệ số gói thầu vì hai cách tính khác nhau về bản chất. Việc dành nhiều gói thầu có giá trị rất nhỏ chưa phản ánh đúng cơ hội thị trường mà chính sách hướng tới.

Đại biểu đề nghị phân biệt giá trị các gói thầu dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia với giá trị hợp đồng thực tế được trao. Trường hợp không đáp ứng tỉ lệ quy định, cần có căn cứ để giải trình, kiểm tra; cơ quan thực hiện phải làm rõ cơ cấu mua sắm, lý do không có đủ gói thầu phù hợp và việc thực hiện nghĩa vụ ưu tiên. Nguyên tắc tính theo giá trị, nghĩa vụ công khai, giải trình và giới hạn áp dụng ngoại lệ cần được xác lập tại Điều 12; công thức, biểu mẫu và quy trình thực hiện giao Chính phủ quy định cụ thể.

Góp ý về tiêu chí xác định quy mô doanh nghiệp, đại biểu Đào Chí Nghĩa (TP. Cần Thơ) cho rằng doanh thu và lao động biến động trong ngắn hạn có thể khiến quy mô doanh nghiệp thay đổi liên tục. Trong khi đó, dự thảo chưa quy định rõ cách xác định tổng nguồn vốn đối với doanh nghiệp hoạt động đa ngành và doanh nghiệp mới thành lập, dễ dẫn đến cách hiểu khác nhau.

Đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo không chỉ rà soát các mức trần 300 lao động, 150 tỷ đồng vốn và 400 tỷ đồng doanh thu mà còn hoàn thiện cách thiết kế tiêu chí để bảo đảm phân loại đúng quy mô, công bằng giữa các ngành nghề và thuận lợi trong thực hiện chính sách hỗ trợ.

Theo đó, cần nghiên cứu sử dụng số liệu bình quân trong một khoảng thời gian phù hợp để bảo đảm tính ổn định; quy định rõ kỳ tính, căn cứ số liệu và cách xử lý trường hợp doanh nghiệp biến động lớn về vốn, doanh thu. Dự thảo cũng cần có quy định riêng đối với doanh nghiệp chưa hoạt động đủ thời gian theo quy định và cơ chế chuyển tiếp đối với doanh nghiệp vượt ngưỡng khi đang thụ hưởng chính sách, tránh dừng hỗ trợ đột ngột.

Đại biểu Phan Thị Thùy Linh (tỉnh Thanh Hóa) đánh giá cao những chính sách đổi mới trong dự thảo Luật, đồng thời nhấn mạnh doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm hơn 98% tổng số doanh nghiệp, cùng hàng triệu hộ kinh doanh, đóng góp quan trọng vào việc tạo việc làm, bảo đảm sinh kế và ổn định xã hội.

Theo đại biểu, tiến độ hỗ trợ hiện chưa theo kịp lộ trình nâng cấp của doanh nghiệp. Để đáp ứng yêu cầu của khách hàng lớn, doanh nghiệp có thể cần từ 1-2 năm cải tiến sản xuất, trong khi hoạt động hỗ trợ thường tập trung vào 6 tháng cuối năm ngân sách, chủ yếu là tư vấn, đào tạo, tham gia hội chợ. Các nội dung như sản xuất thử, kiểm định chưa được triển khai rộng rãi.

Dẫn số liệu từ báo cáo tổng kết của Bộ Tài chính, đại biểu cho biết trong khảo sát gần 500 doanh nghiệp nhỏ và vừa, chỉ khoảng 9% phản hồi đã tiếp cận, thụ hưởng chính sách hỗ trợ. Vì vậy, cần đổi mới mạnh mẽ phương thức tổ chức thực hiện để chính sách thực sự đến được với doanh nghiệp.

Đại biểu đề nghị việc lựa chọn tổ chức thực hiện chính sách phải công khai, minh bạch, đúng quy định; thanh toán gắn với kết quả nghiệm thu. Bên cạnh xây dựng chính sách phù hợp, cần có cơ chế triển khai hiệu quả để doanh nghiệp biết đến, tiếp cận và thụ hưởng chính sách.

Giải trình tiêu chí phân loại và các chính sách hỗ trợ

Về tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết dự thảo quy định số lao động bình quân không quá 300 người, tổng nguồn vốn tối đa 150 tỷ đồng hoặc doanh thu tối đa 400 tỷ đồng.

Theo Bộ trưởng, các mức này được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định trước đây, đồng thời tính đến tốc độ tăng trưởng GDP và chỉ số lạm phát từ năm 2017 đến nay. Cơ quan soạn thảo cũng tham khảo kinh nghiệm quốc tế, làm việc với Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC), OECD và một số quốc gia. Dự thảo giao Chính phủ quy định cụ thể tiêu chí phù hợp với từng ngành, lĩnh vực.

Về chính sách hỗ trợ, dự thảo thiết kế 11 chính sách hỗ trợ chung và 4 chính sách hỗ trợ có trọng tâm. Chính sách hỗ trợ về thuế trong 3 năm kể từ khi doanh nghiệp được cấp phép hoạt động được kế thừa từ Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội ban hành năm 2025, nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp mới thành lập thích ứng, tồn tại và phát triển.

Về tiếp cận mặt bằng, dự thảo mở rộng chính sách theo hướng cho phép chính quyền địa phương đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp để dành quỹ đất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo thống kê của Bộ Tài chính, từ khi Nghị quyết số 198/2025/QH15 có hiệu lực, đã có 110 khu công nghiệp dành quỹ đất với hạ tầng đầy đủ để thu hút nhóm doanh nghiệp này.

Về mua sắm công, theo Bộ trưởng, chính sách dành tối thiểu 20% kinh phí mua sắm công cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, ưu tiên các gói thầu có giá trị từ 20 tỷ đồng trở xuống. Trong gần một năm triển khai, có gần 226.000 gói thầu dưới 20 tỷ đồng được dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, với hơn 12.000 doanh nghiệp tham gia, tổng giá trị khoảng 126.000 tỷ đồng.

Bộ trưởng cũng cho biết việc cắt giảm thủ tục hành chính đã giúp giảm 53% thời gian tuân thủ và 54% chi phí. Dự thảo tiếp tục hướng tới giảm thời gian, chi phí tuân thủ pháp luật, khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng công nghệ thông tin, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo.

Về xử lý mã số thuế tồn đọng, hiện còn khoảng 2,8 triệu mã số thuế chưa đóng, trong đó khoảng 1,2 triệu mã số thuộc doanh nghiệp và chi nhánh doanh nghiệp. Trong 8 tháng đầu năm 2026, cơ quan thuế đã đóng gần 600.000 mã số thuế. Bộ Tài chính đang nghiên cứu chính sách đặc thù, trong đó có những nội dung thuộc thẩm quyền của Quốc hội, nhằm xử lý số mã số thuế này.

Diệu Anh