Kế hoạch thực hiện Kết luận số 107-KL/TW về hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm
(Chinhphu.vn) - Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định 2034/QĐ-TTg ngày 23/10/2026 ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 107-KL/TW ngày 17/10/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm trong hệ thống chính trị gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ và quản lý biên chế.

Việc hoàn thiện vị trí việc làm phải phản ánh đúng nhiệm vụ, công việc chủ yếu, sản phẩm đầu ra, trách nhiệm, quan hệ công tác và yêu cầu năng lực.
Kế hoạch nhằm cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp thuộc trách nhiệm quản lý, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để thực hiện Kết luận số 107-KL/TW; bảo đảm việc rà soát, hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm gắn với yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ, đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Sử dụng kết quả rà soát chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm làm căn cứ xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027 - 2031, bố trí, sử dụng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; bảo đảm phù hợp với yêu cầu tinh gọn tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền và điều kiện thực tiễn của từng ngành, lĩnh vực, địa phương.
Đổi mới công tác quản lý, sử dụng và đãi ngộ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm; gắn tinh giản biên chế với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ, năng suất và hiệu quả công việc; đổi mới phương thức thực hiện nhiệm vụ, chuyển đổi số và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
Rà soát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức thực hiện công việc
Một trong các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Kế hoạch là rà soát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức thực hiện công việc.
Cụ thể, các bộ, cơ quan ngang bộ rà soát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và phương thức thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý; xác định những nội dung thay đổi do sắp xếp tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, chuyển giao nhiệm vụ và yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố rà soát việc phân công nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm giữa cấp tỉnh và cấp xã theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; làm rõ nhiệm vụ tiếp tục thực hiện, nhiệm vụ mới được giao, nhiệm vụ chuyển giao, nhiệm vụ không còn thực hiện hoặc thay đổi về phạm vi, đối tượng, quy trình và trách nhiệm giải quyết.
Trên cơ sở kết quả rà soát, xác định những công việc, công đoạn còn chồng chéo, trùng lặp, bỏ sót hoặc chưa rõ trách nhiệm; đánh giá khả năng điều chỉnh quy trình, đơn giản hóa thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số, tổ chức thực hiện tập trung hoặc dùng chung, giao tự chủ, đặt hàng, đấu thầu, xã hội hóa dịch vụ công theo quy định.
Đối với nhiệm vụ có khả năng thay đổi phương thức thực hiện, các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương đánh giá điều kiện thực hiện, tác động đến khối lượng công việc, trách nhiệm của cơ quan, đơn vị và nhu cầu nhân lực. Đối với nội dung cần điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, tổ chức bộ máy hoặc cơ chế thực hiện vượt thẩm quyền, tổng hợp, báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Việc đề xuất phân cấp, phân quyền phải gắn với phân định rõ trách nhiệm, điều kiện tổ chức thực hiện và nguồn lực cần thiết; bảo đảm nhiệm vụ được giao có cơ quan chịu trách nhiệm, có điều kiện thực hiện và không làm phát sinh chồng chéo về thẩm quyền.
Xác định vị trí việc làm
Nhiệm vụ, giải pháp khác là xác định vị trí việc làm. Cụ thể, các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm thuộc phạm vi quản lý trên cơ sở kết quả rà soát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức thực hiện công việc; kế thừa các danh mục vị trí việc làm, bản mô tả công việc, khung năng lực đã được phê duyệt, xác nhận và còn phù hợp; cập nhật những nội dung thay đổi, còn thiếu hoặc chưa được kiểm chứng.
Việc hoàn thiện vị trí việc làm phải phản ánh đúng nhiệm vụ, công việc chủ yếu, sản phẩm đầu ra, trách nhiệm, quan hệ công tác và yêu cầu năng lực; phù hợp với tính chất, mức độ phức tạp của công việc, đặc thù ngành, lĩnh vực, địa bàn và mô hình tổ chức. Đối với nhiệm vụ được chuyển giao, phân cấp, phân quyền hoặc thay đổi phương thức thực hiện, phải xác định rõ phần việc còn lại, phần việc phát sinh và trách nhiệm thực hiện ở từng cấp, từng cơ quan, đơn vị.
Chủ động điều chỉnh, thiết kế lại vị trí việc làm khi chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền hoặc phương thức thực hiện thay đổi. Trường hợp có nội dung cần điều chỉnh thuộc thẩm quyền của cơ quan khác, cơ quan quản lý tổng hợp, báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Xác định nhu cầu nhân lực theo vị trí việc làm
Các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố xác định nhu cầu nhân lực theo từng vị trí việc làm trên cơ sở nhiệm vụ, sản phẩm, khối lượng, tần suất, mức độ phức tạp, chất lượng, thời gian, địa bàn, điều kiện thực hiện và năng lực cần thiết thực hiện nhiệm vụ; lựa chọn phương pháp xác định phù hợp với tính chất của từng nhóm công việc theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương và cơ quan có thẩm quyền.
Việc xác định nhu cầu nhân lực phải tính đến tác động của sắp xếp tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, chuyển giao nhiệm vụ, thay đổi quy trình, chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ, tổ chức công việc dùng chung, thực hiện tự chủ, đặt hàng, đấu thầu và xã hội hóa dịch vụ công theo quy định. Đối với công việc khó lượng hóa bằng thời gian hoặc sản phẩm định lượng, phải căn cứ đặc điểm nhiệm vụ, mức độ phức tạp, trách nhiệm, tiến độ và yêu cầu năng lực để đánh giá phù hợp; không quy đổi cơ học thành số lượng nhân lực khi chưa có căn cứ. Không đồng nhất một vị trí việc làm với một cá nhân hoặc một chỉ tiêu biên chế; không tự động quy đổi nhu cầu nhân lực thành chỉ tiêu biên chế.
Số liệu về khối lượng công việc, thời gian thực hiện và nhân lực hiện có phải xác định rõ phạm vi, kỳ thống kê, nguồn dữ liệu và cơ quan xác nhận. Đối với nhiệm vụ mới phát sinh, nhiệm vụ mới chuyển giao hoặc đơn vị chưa có đủ thời gian thống kê, phải thuyết minh rõ cơ sở xác định, không cơ học quy đổi số liệu của thời gian ngắn thành số liệu cả năm.
Xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027 - 2031
Trên cơ sở nhu cầu nhân lực đã xác định, các bộ, cơ quan, địa phương đối chiếu với đội ngũ hiện có; xác định đúng nơi thừa, nơi thiếu, nơi bố trí chưa phù hợp về cơ cấu chuyên môn và chất lượng; ưu tiên sắp xếp, điều chuyển, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hiệu quả nhân lực hiện có trước khi đề xuất điều chỉnh biên chế. Trên cơ sở đó, xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027 - 2031 theo từng năm, có thuyết minh về cơ sở dự báo, thay đổi nhiệm vụ, quy mô hoạt động và điều kiện bảo đảm thực hiện.
Phương án biên chế phải phân biệt rõ nhu cầu nhân lực theo yêu cầu công việc với số lượng biên chế để xuất và biên chế được cấp có thẩm quyền giao; phù hợp với yêu cầu tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ, khả năng cân đối nguồn lực và quy định về quản lý biên chế. Không lấy số lượng nhân lực tính toán được làm căn cứ tự động đề xuất tăng biên chế hoặc thay thế thẩm quyền quyết định biên chế.
Bộ Nội vụ chủ trì tổng hợp, rà soát tính thống nhất của kết quả xác định nhu cầu nhân lực và phương án biên chế thuộc phạm vi quản lý của Chính phủ; phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan đánh giá điều kiện bảo đảm thực hiện, xử lý những nội dung khác biệt, chưa thống nhất thuộc thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Tiến độ thực hiện
Ngay sau khi Kế hoạch được ban hành, các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương tổ chức thực hiện các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm quản lý; bảo đảm thống nhất với Kết luận số 107-KL/TW, Hướng dẫn số 07-HD/BTCTW và yêu cầu, tiến độ chung do cơ quan có thẩm quyền xác định.
Trong Quý IV năm 2026, tập trung hoàn thành việc rà soát, cập nhật và kiểm chứng các thông tin, dữ liệu cần thiết; xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027 - 2031 thuộc phạm vi quản lý; tổng hợp các vấn đề về cơ chế, chính sách, quy định cần xử lý theo thẩm quyền.
Trong năm 2026, phối hợp thực hiện việc cập nhật, chuẩn hóa và kết nối dữ liệu về vị trí việc làm thuộc phạm vi quản lý của Chính phủ với hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất của hệ thống chính trị theo yêu cầu, tiến độ của cơ quan có thẩm quyền.
Từ năm 2027, tiếp tục hoàn thiện vị trí việc làm, bản mô tả công việc, khung năng lực, phương pháp xác định nhu cầu nhân lực và dữ liệu; rà soát, cập nhật khi có thay đổi về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, phương thức thực hiện nhiệm vụ hoặc yêu cầu quản lý. Từng bước sử dụng kết quả rà soát trong quản lý, bố trí, sử dụng và phát triển đội ngũ, quản lý biên chế theo quy định.
Các mốc tiến độ cụ thể trong quá trình rà soát, tổng hợp và báo cáo được thực hiện thống nhất với Kết luận số 107-KL/TW, Hướng dẫn số 7-HD/BTCTW và chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền; bảo đảm chất lượng kết quả, không làm ảnh hưởng đến tiến độ tổng hợp chung.
Bộ Nội vụ tổng hợp kết quả thực hiện của các bộ, cơ quan, địa phương, rà soát tính thống nhất của dữ liệu, kết quả xác định nhu cầu nhân lực và phương án biên chế; báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương theo tiến độ, yêu cầu chung của cấp có thẩm quyền./.