• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Khoa học cơ bản: Đầu tư dài hạn cho năng lực tự chủ quốc gia

(Chinhphu.vn) - Trong cuộc đua công nghệ toàn cầu, những quốc gia dẫn đầu không chỉ sở hữu các sản phẩm hiện đại nhất mà quan trọng hơn, họ nắm trong tay năng lực tạo ra tri thức mới. Từ những chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về nghiên cứu khoa học cơ bản, giới khoa học cho rằng đây là thời điểm Việt Nam cần nhìn nhận khoa học cơ bản như một năng lực chiến lược quốc gia.

30/05/2026 19:02
Khoa học cơ bản: Đầu tư dài hạn cho năng lực tự chủ quốc gia- Ảnh 1.

Đầu tư cho khoa học cơ bản là đầu tư cho tương lai lâu dài của dân tộc - Ảnh minh họa

Muốn làm chủ công nghệ lõi, nâng cao năng lực tự chủ và tạo động lực tăng trưởng dài hạn, đất nước không có con đường nào khác ngoài đầu tư cho tri thức nền tảng.

Tại buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia ngày 25/5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh phải xác định rõ nghiên cứu khoa học cơ bản không phải hoạt động học thuật thuần túy, mà là nền tảng chiến lược của phát triển quốc gia trong thế kỷ 21. Đầu tư cho khoa học cơ bản là đầu tư cho tương lai lâu dài của dân tộc, cho năng lực tự chủ quốc gia, cho chiều sâu phát triển và cho sức cạnh tranh lâu dài của đất nước.

Tinh thần chung là phải hành động quyết liệt hơn, đổi mới mạnh mẽ hơn và có tầm nhìn dài hạn hơn đối với nghiên cứu khoa học cơ bản. Chúng ta không chỉ giải quyết câu chuyện của ngành khoa học hôm nay, mà đang chuẩn bị nền tảng tri thức cho tương lai phát triển của đất nước trong nhiều thập niên tới.

Thông điệp này được nhiều nhà khoa học đánh giá là sự khẳng định mạnh mẽ vai trò của tri thức nền tảng trong mô hình phát triển mới của đất nước. Bởi trong kỷ nguyên công nghệ, khoảng cách giữa các quốc gia không còn được quyết định chủ yếu bởi tài nguyên hay lao động giá rẻ, mà bởi khả năng tạo ra tri thức mới, làm chủ công nghệ mới và chuyển hóa tri thức thành động lực phát triển.

Nếu như trước đây khoa học cơ bản thường được nhìn nhận là lĩnh vực mang tính hàn lâm, khó tạo ra giá trị kinh tế trực tiếp trong ngắn hạn, thì nay cách tiếp cận đó đang thay đổi. Những thành tựu công nghệ mang tính cách mạng của thế giới từ bán dẫn, internet, công nghệ sinh học đến trí tuệ nhân tạo đều bắt nguồn từ những nghiên cứu cơ bản được đầu tư bền bỉ trong nhiều thập niên.

Chính vì vậy, câu chuyện phát triển khoa học cơ bản không còn là vấn đề riêng của các viện nghiên cứu hay trường đại học, mà là bài toán chiến lược liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia trong tương lai.

Khoa học cơ bản: Đầu tư dài hạn cho năng lực tự chủ quốc gia- Ảnh 2.

PGS.TS Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED - Bộ KH&CN) - Ảnh: VGP/Thu Giang

Muốn có công nghệ chiến lược, phải đầu tư cho tri thức nền

Theo PGS.TS Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED - Bộ KH&CN), những định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc đối với sự phát triển khoa học và công nghệ của đất nước.

Ông cho rằng lịch sử phát triển khoa học thế giới đã chứng minh mọi đột phá công nghệ lớn đều bắt nguồn từ những khám phá của khoa học cơ bản. Các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học hay vật liệu mới đều được xây dựng trên nền tảng tri thức do nghiên cứu cơ bản tạo ra.

"Đối với Việt Nam, khi xác định phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đầu tư cho khoa học cơ bản không chỉ là đầu tư cho tri thức mà còn là đầu tư cho năng lực cạnh tranh dài hạn của quốc gia", ông nhấn mạnh.

Theo PGS.TS Đào Ngọc Chiến, khoa học cơ bản không chỉ tạo ra các ý tưởng và hướng công nghệ mới mà còn góp phần hình thành đội ngũ nhân lực nghiên cứu trình độ cao, nâng cao năng lực hấp thụ và làm chủ công nghệ tiên tiến của thế giới. Đây chính là nền tảng để Việt Nam xây dựng năng lực khoa học công nghệ nội sinh và giảm dần sự phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu.

Một trong những nội dung được ông đặc biệt đánh giá cao là yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý khoa học theo hướng chấp nhận rủi ro khoa học, giảm hành chính hóa và trao quyền tự chủ nhiều hơn cho nhà khoa học.

"Bản chất của nghiên cứu khoa học, đặc biệt là nghiên cứu cơ bản, luôn gắn với rủi ro. Nếu cơ chế quản lý chỉ tập trung kiểm soát rủi ro mà không chấp nhận khả năng thất bại trong nghiên cứu thì rất khó tạo ra những kết quả mang tính đột phá", ông nói.

Theo ông, định hướng đánh giá dựa trên chất lượng và giá trị khoa học thực chất thay vì các chỉ tiêu hình thức là cách tiếp cận phù hợp với thông lệ quốc tế. Đây cũng là cơ sở để các quỹ tài trợ nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện cơ chế hoạt động theo hướng cạnh tranh, minh bạch và khuyến khích các ý tưởng nghiên cứu tiên phong.

Sau hơn 15 năm triển khai cơ chế tài trợ nghiên cứu cơ bản theo chuẩn mực quốc tế, Việt Nam đã hình thành nhiều nhóm nghiên cứu có uy tín trong các lĩnh vực như toán học, vật lý, hóa học, khoa học vật liệu, khoa học sự sống, công nghệ thông tin và một số ngành khoa học xã hội, nhân văn. Nhiều công trình của các nhà khoa học Việt Nam đã được công bố trên các tạp chí khoa học hàng đầu thế giới, tạo nền tảng để phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh và các trung tâm nghiên cứu xuất sắc.

Tuy nhiên, theo ông Chiến, thách thức lớn nhất hiện nay vẫn là bảo đảm nguồn đầu tư ổn định, dài hạn và đủ quy mô cho các nhóm nghiên cứu mạnh; tiếp tục hoàn thiện cơ chế tự chủ, nâng cao chất lượng hạ tầng nghiên cứu và có chính sách đủ sức thu hút, giữ chân các nhà khoa học xuất sắc.

Mới đây, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc là tín hiệu tích cực, thể hiện quyết tâm đầu tư dài hạn cho tri thức nền, hình thành các hạt nhân khoa học xuất sắc và chuẩn bị nguồn lực cho các công nghệ chiến lược trong tương lai.

Đặc biệt, phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng các nhà khoa học trẻ phải trở thành ưu tiên chiến lược. Khi được trao cơ hội phát triển lâu dài, được tin tưởng và tạo điều kiện theo đuổi những ý tưởng khoa học lớn, thế hệ nhà khoa học trẻ sẽ là lực lượng quyết định năng lực cạnh tranh khoa học của đất nước trong những thập niên tới.

Khoa học cơ bản: Đầu tư dài hạn cho năng lực tự chủ quốc gia- Ảnh 3.

GS.TS.Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Ảnh: VGP/Thu Giang

Không thể phát triển khoa học cơ bản bằng tư duy đầu tư ngắn hạn

Ở góc độ của cơ quan nghiên cứu hàng đầu cả nước, GS.TS Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng những chỉ đạo của Tổng Bí thư đã chạm đúng những vấn đề cốt lõi của khoa học cơ bản hiện nay.

Theo ông, trong khoảng hai thập niên qua, nghiên cứu cơ bản của Việt Nam đã có những bước tiến đáng ghi nhận cả về chất lượng lẫn số lượng công bố quốc tế. Nhiều nhóm nghiên cứu mạnh đã được hình thành, tạo nền tảng cho một số hướng công nghệ chiến lược mới.

Trong lĩnh vực vật liệu, các nghiên cứu về nano, carbon và vật liệu có độ tinh khiết cao đã mở ra nhiều triển vọng ứng dụng trong công nghiệp công nghệ cao. Ở lĩnh vực công nghệ sinh học và y sinh, nhiều kết quả nghiên cứu đã góp phần phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp bền vững và bảo đảm an ninh sinh học.

"Điều quan trọng là nhiều thành tựu công nghệ ngày nay đều bắt nguồn từ những nghiên cứu cơ bản trước đó. Nếu muốn làm chủ các công nghệ lõi trong tương lai, Việt Nam buộc phải đầu tư nghiêm túc cho nghiên cứu nền tảng ngay từ bây giờ", GS.TS Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

Tuy nhiên, theo ông, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không còn nằm ở nhận thức hay chủ trương, mà ở cơ chế vận hành và nguồn lực đầu tư cho khoa học cơ bản.

"Nghiên cứu cơ bản cần những chương trình đầu tư dài hạn, có thể kéo dài 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn. Trong khi đó, nguồn lực hiện nay vẫn còn phân tán, thiếu những chương trình đủ lớn và đủ dài để tạo ra các đột phá", ông nói.

Bên cạnh đó, hạ tầng nghiên cứu cũng đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải được nâng cấp. Nhiều phòng thí nghiệm trọng điểm được đầu tư từ nhiều năm trước chưa theo kịp tốc độ phát triển của khoa học hiện đại, trong khi kinh phí vận hành còn hạn chế. Đây là những điều kiện nền tảng cần được giải quyết nếu Việt Nam muốn triển khai các chương trình nghiên cứu quy mô lớn trong các lĩnh vực chiến lược như bán dẫn, lượng tử, vật liệu mới, năng lượng mới hay công nghệ sinh học.

Một vấn đề khác được GS.TS Trần Tuấn Anh đặc biệt quan tâm là phát triển nguồn nhân lực khoa học. Theo ông, cần có chính sách xuyên suốt từ giáo dục phổ thông, đại học đến các viện nghiên cứu nhằm phát hiện và bồi dưỡng tài năng khoa học từ sớm.

"Nếu có chính sách đủ mạnh và một lộ trình phù hợp, trong khoảng 5-10 năm tới Việt Nam hoàn toàn có thể hình thành đội ngũ nhà khoa học trẻ đủ sức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và từng bước tiệm cận trình độ khu vực, quốc tế", ông nhận định.

Theo GS.TS Trần Tuấn Anh, bên cạnh nghiên cứu cơ bản thuần túy nhằm tạo ra tri thức mới, cần đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng gắn với các công nghệ lõi và công nghệ chiến lược. Hiện nay, nhiều nghiên cứu trong các lĩnh vực vật lý, toán học đang hướng tới công nghệ lượng tử; các nghiên cứu về vật liệu đang phục vụ phát triển năng lượng hydrogen, công nghiệp bán dẫn, hàng không - vũ trụ và nhiều lĩnh vực công nghệ cao khác.

"Đó sẽ tiếp tục là những hướng nghiên cứu trọng tâm mà Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tập trung phát triển trong thời gian tới", GS.TS Trần Tuấn Anh cho biết.

Thu Giang