• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Mua bán đất chưa có Giấy chứng nhận, xử phạt thế nào?

(Chinhphu.vn) - Năm 2004, ông Thạch Trường Sơn (TPHCM) có bán cho người quen đất và nhà không có Giấy chứng nhận (nhà xây năm 1997 đã đi đăng ký đất đai năm 1997) bằng giấy viết tay.

15/08/2026 11:04

Người quen sau đó đã đi đăng ký đất đai năm 2005, 2014, hiện đang làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận lần đầu. Đất sử dụng ổn định không lấn chiếm hay tranh chấp. Từ đó đến nay ông Sơn không bị lập biên bản vi phạm hành chính về đất đai.

Ông Sơn hỏi, việc mua bán trên, ông và người mua có bị phạt theo các điều 8, 10, 17, 20 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP (hay các điều khác của Nghị định này) hay không?

Ngoài ra, có bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp số lợi bất hợp pháp hay không (theo khoản 2 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012)? Và nếu có thì tính từ thời điểm nào đến thời điểm nào và công thức tính như thế nào?

Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:

Khoản 3 Điều 17 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo điểm a khoản 3 Điều 3 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP thì thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm là thời điểm mà các bên liên quan đã hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc văn bản giao dịch đã ký kết;

Theo điểm a khoản 2 Điều 3 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính 02 năm được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.

Do đó, cơ quan có thẩm quyền phải xác định hành vi này còn thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính hay không.

Trường hợp không còn thời hiệu xử phạt thì không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 2 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Chinhphu.vn