• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Ngành Hải quan triển khai Nghị quyết 66 - BÀI 2: Mở lối quản lý thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu

(Chinhphu.vn) - Chuyển đổi số đang trở thành nền tảng quan trọng trong quá trình hiện đại hóa ngành hải quan. Từ số hóa thủ tục, ứng dụng AI đến kết nối dữ liệu, ngành Hải quan hướng tới mô hình quản lý thông minh, minh bạch và thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.

19/06/2026 11:55
Ngành Hải quan triển khai Nghị quyết 66 - BÀI 2: Mở lối quản lý thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu- Ảnh 1.

Chuyển đổi số đang trở thành nền tảng quan trọng trong quá trình hiện đại hóa ngành hải quan

 Hải quan từ cải cách thủ tục đến quản trị dựa trên dữ liệu

Chuyển đổi số đang trở thành trụ cột trong chiến lược hiện đại hóa ngành Hải quan. Từ xây dựng Hải quan số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) đến kết nối dữ liệu liên ngành, ngành Hải quan đang hướng tới mô hình quản lý dựa trên dữ liệu, minh bạch hơn và phục vụ doanh nghiệp hiệu quả hơn.

Trong hoạt động thương mại quốc tế, tốc độ xử lý thủ tục ngày càng trở thành yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Khi chuỗi cung ứng toàn cầu liên tục thay đổi, yêu cầu đặt ra đối với cơ quan quản lý không chỉ là kiểm soát chặt chẽ hàng hóa xuất nhập khẩu mà còn phải tạo thuận lợi để doanh nghiệp lưu thông hàng hóa nhanh hơn, minh bạch hơn.

Với ngành Hải quan, chuyển đổi số không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu.

Sau nhiều năm triển khai hải quan điện tử, ngành Hải quan đang bước sang giai đoạn mới với mục tiêu xây dựng mô hình Hải quan số, hướng tới quản lý dựa trên dữ liệu, ứng dụng công nghệ hiện đại và giảm sự phụ thuộc vào phương thức xử lý thủ công.

Theo ông Trần Đức Hùng - Phó Cục trưởng Cục Hải quan (Bộ Tài chính), chuyển đổi số là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm thay đổi căn bản phương thức quản lý nhà nước về hải quan, tạo nền tảng để doanh nghiệp được phục vụ nhanh hơn, thuận lợi hơn trong hoạt động xuất nhập khẩu.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng hiện nay của ngành Hải quan là triển khai dự án "Xây dựng hệ thống công nghệ thông tin thực hiện Hải quan số".

Hệ thống này được định hướng thay thế, nâng cấp các nền tảng công nghệ đang vận hành, trong đó có Hệ thống thông quan hàng hóa tự động VNACCS/VCIS và Cơ chế một cửa quốc gia.

Sự phát triển nhanh của thương mại điện tử, logistics xuyên biên giới, yêu cầu kết nối dữ liệu giữa các cơ quan quản lý và xu hướng quản trị số đang đặt ra những yêu cầu mới.

Ngành Hải quan triển khai Nghị quyết 66 - BÀI 2: Mở lối quản lý thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu- Ảnh 3.

Ông Trần Đức Hùng - Phó Cục trưởng Cục Hải quan (Bộ Tài chính)

Theo ông Trần Đức Hùng, Hải quan số không đơn thuần là việc đưa các thủ tục hiện có lên môi trường điện tử mà là quá trình tái cấu trúc toàn bộ phương thức quản lý. Hải quan hướng tới quản lý bằng dữ liệu, phân tích rủi ro và đánh giá mức độ tuân thủ của doanh nghiệp. Khi dữ liệu được kết nối và khai thác hiệu quả, cơ quan Hải quan có thể nhận diện rủi ro chính xác hơn, giảm kiểm tra không cần thiết và tạo thuận lợi cho những doanh nghiệp tuân thủ tốt.

Hải quan số được xây dựng trên nền tảng ứng dụng nhiều công nghệ mới như điện toán đám mây, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật và các nền tảng di động.

Trong đó, điện toán đám mây giúp nâng cao khả năng vận hành, mở rộng hệ thống; dữ liệu lớn hỗ trợ phân tích thông tin phục vụ quản lý rủi ro, quản lý thuế và xây dựng cơ sở dữ liệu ngành.

Trí tuệ nhân tạo được định hướng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như nhận dạng chứng từ thương mại, hỗ trợ phân loại hàng hóa, tra cứu mã số HS, trị giá tính thuế và xây dựng các công cụ trợ lý ảo.

Một trong những điểm sáng trong quá trình chuyển đổi số của ngành Hải quan là việc thử nghiệm Chatbot AI hỗ trợ cán bộ hải quan và doanh nghiệp.

Hệ thống được xây dựng trên nền tảng điện toán đám mây AWS, tích hợp công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP), mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) và hệ thống truy xuất dữ liệu tri thức chuyên ngành hải quan.

Trong thời gian thử nghiệm từ ngày 1/2 đến 20/4/2026, chatbot đã xử lý 53.601 câu hỏi từ 14.441 lượt hội thoại.

Các nội dung doanh nghiệp quan tâm nhiều nhất tập trung vào mã HS và phân loại hàng hóa với tỷ lệ 60,43%; tiếp theo là thủ tục hải quan 10,88%; hồ sơ chứng từ và xuất xứ hàng hóa 7,08%.

Đáng chú ý, tỷ lệ phản hồi thành công đạt 99,78%, thời gian trả lời mỗi câu hỏi chỉ từ 3-4 giây.

Theo định hướng của ngành Hải quan, các công cụ AI sẽ tiếp tục được nghiên cứu mở rộng nhằm hỗ trợ cán bộ nghiệp vụ và cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục.

Ngành Hải quan triển khai Nghị quyết 66 - BÀI 2: Mở lối quản lý thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu- Ảnh 4.

Một trong những lợi ích rõ nhất của chuyển đổi số là giảm chi phí tuân thủ

Thông quan nhanh hơn nhờ số hóa quy trình, giảm chi phí cho doanh nghiệp

Chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi rõ nét trong hoạt động hải quan, từ phương thức tiếp nhận hồ sơ, xử lý thủ tục đến quản lý rủi ro và hỗ trợ doanh nghiệp.

Đến nay, 100% thủ tục hải quan cơ bản đã được tự động hóa; 100% đơn vị hải quan trên cả nước thực hiện thủ tục điện tử với sự tham gia của phần lớn doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Đối với hàng hóa luồng Xanh, thời gian thông quan chỉ còn tính bằng giây.

Cùng với đó, việc triển khai thanh toán điện tử qua hệ thống ngân hàng giúp doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế nhanh chóng, thuận tiện hơn.

Thông qua phối hợp với khoảng 48 ngân hàng thương mại, số thu qua ngân hàng chiếm khoảng 98% tổng thu ngân sách của cơ quan Hải quan.

Doanh nghiệp có thể thực hiện nộp thuế mọi lúc, mọi nơi, hạn chế thời gian chờ đợi và hỗ trợ hàng hóa được thông quan nhanh hơn.

Ngoài ra, Cổng thông tin một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN tiếp tục được mở rộng, tạo nền tảng kết nối giữa cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp.

Một trong những lợi ích rõ nhất của chuyển đổi số là giảm chi phí tuân thủ.

Khi hồ sơ được số hóa, doanh nghiệp dễ dàng lưu trữ, tra cứu, kiểm soát thông tin và hạn chế sai sót trong quá trình khai báo. Đồng thời, việc giảm tiếp xúc trực tiếp giữa doanh nghiệp và công chức thông qua các quy trình điện tử cũng góp phần nâng cao tính minh bạch.

Theo ông Trần Đức Hùng, mục tiêu của chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ mà quan trọng hơn là tạo ra phương thức quản lý hiệu quả hơn. Cơ quan Hải quan sẽ chuyển nguồn lực từ xử lý hồ sơ hành chính sang phân tích dữ liệu, quản lý rủi ro và kiểm tra sau thông quan. Điều này giúp vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.

Doanh nghiệp kỳ vọng cải cách tiếp tục đi vào chiều sâu

Trong tiến trình cải cách thể chế và chuyển đổi số, ngành Hải quan đang hướng tới mô hình Hải quan thông minh năm 2030, lấy dữ liệu làm nền tảng quản lý, tạo thuận lợi thương mại, giảm chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thực hiện Nghị quyết số 66/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh giai đoạn 2025-2026, cơ quan Hải quan đã triển khai rà soát toàn diện các thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý.

Đánh giá về định hướng này, ông Trần Đức Hùng cho biết, cốt lõi của cải cách không đơn thuần là giảm số lượng thủ tục mà là thay đổi tư duy quản lý, chuyển dịch từ mô hình quản lý hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu, rủi ro và mức độ tuân thủ của doanh nghiệp.

Theo ông Trần Đức Hùng, mỗi thủ tục hay điều kiện kinh doanh được bãi bỏ là một nút thắt được tháo gỡ cho dòng chảy thương mại quốc tế.

Cùng với cải cách thể chế, ngành Hải quan tiếp tục hiện đại hóa phương thức quản lý, giảm sự phụ thuộc vào hồ sơ giấy, tăng khai thác dữ liệu điện tử và nâng cao tính minh bạch trong thực hiện thủ tục.

Đánh giá về tiến trình cải cách của ngành Hải quan, ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng thư ký, kiêm Trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, chuyển đổi số được xem là nền tảng cho những thay đổi mang tính dài hạn.

Theo ông Đậu Anh Tuấn, cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận những chuyển biến tích cực của ngành Hải quan trong nhiều năm qua, đặc biệt là nỗ lực ứng dụng công nghệ thông tin, đối thoại với doanh nghiệp và cải thiện môi trường thông quan.

"Tuy nhiên, dư địa cải cách vẫn còn lớn. Doanh nghiệp mong muốn quá trình chuyển đổi số và cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được triển khai sâu rộng hơn, lấy chi phí tuân thủ và trải nghiệm của doanh nghiệp làm thước đo", ông Đậu Anh Tuấn chia sẻ. Ý kiến từ đại diện VCCI cho thấy yêu cầu của doanh nghiệp hiện nay không chỉ dừng lại ở việc thủ tục được thực hiện trực tuyến, mà còn hướng tới một môi trường quản lý thuận tiện, minh bạch và giảm tối đa chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện.

Ngành Hải quan triển khai Nghị quyết 66 - BÀI 2: Mở lối quản lý thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu- Ảnh 5.

Trên nền tảng cải cách thể chế và chuyển đổi số, ngành Hải quan đặt mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành mô hình Hải quan thông minh

Hướng tới Hải quan thông minh năm 2030

Trên nền tảng cải cách thể chế và chuyển đổi số, ngành Hải quan đặt mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành mô hình Hải quan thông minh.

Theo định hướng này, 100% chứng từ thuộc hồ sơ hải quan đối với các loại hình cơ bản được chuyển sang dạng dữ liệu điện tử và số hóa hoàn toàn.

Ông Trần Đức Hùng cho biết, ngành Hải quan đã quán triệt chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn với yêu cầu cải cách thể chế không được dừng lại ở văn bản mà phải chuyển hóa thành năng lực thực thi, gắn với số hóa toàn diện.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn yêu cầu người đứng đầu các đơn vị phải chịu trách nhiệm trong việc loại bỏ tư duy quản lý cũ, lấy sự hài lòng và hiệu quả chi phí của doanh nghiệp làm thước đo trong quá trình chuyển đổi số.

Theo định hướng đó, chuyển đổi số ngành Hải quan không chỉ là câu chuyện về công nghệ mà còn là quá trình thay đổi phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả thực thi và tạo dựng môi trường thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Chuyển đổi số đang mở ra bước chuyển mới cho ngành Hải quan, từ mô hình quản lý dựa trên hồ sơ sang quản trị dựa trên dữ liệu, từ xử lý thủ công sang tự động hóa, từ kiểm soát đơn thuần sang hỗ trợ và đồng hành cùng doanh nghiệp.

Đây cũng là nền tảng để ngành Hải quan tiếp tục thực hiện mục tiêu xây dựng Hải quan thông minh năm 2030, đáp ứng yêu cầu phát triển thương mại trong giai đoạn mới.

Anh Minh