Nghị quyết 71: Từ mở đường đến tạo kết quả thực chất
(Chinhphu.vn) - Sau một năm thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW, ngành giáo dục đã có những chuyển động về thể chế, tự chủ đại học, đào tạo nhân lực STEM và các lĩnh vực công nghệ chiến lược. Tuy nhiên, theo GS.TSKH. Nguyễn Đình Đức, bước sang năm thứ 2, chúng ta cần nhìn nhận điểm nghẽn hiện nay không còn chủ yếu nằm ở thiếu chủ trương, mà ở khả năng đưa chính sách vào thực tế.

GS.TSKH. Nguyễn Đình Đức cho rằng, Nghị quyết 71-NQ/TW đã bắt đầu tạo ra những chuyển động rõ nét trong thực tiễn giáo dục
Giai đoạn tiếp theo, GS.TSKH. Nguyễn Đình Đức – nguyên Chủ tịch hội đồng trường Đại học Công nghệ (ĐHQGHN) nhấn mạnh, cần chuyển từ "mở đường" sang "tạo kết quả", với những thay đổi có thể đo được ở chất lượng người học, đội ngũ, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Nghị quyết 71: Những thay đổi nhanh từ thể chế hóa sang đào tạo nhân lực
GS.TSKH. Nguyễn Đình Đức cho rằng, sau một năm thực hiện Nghị quyết 71, thay đổi đáng chú ý là vị trí của giáo dục ngày càng được nhìn nhận rõ hơn trong chiến lược phát triển đất nước. Giáo dục gắn trực tiếp với chất lượng nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quá trình thể chế hóa Nghị quyết cũng diễn ra khá nhanh. Đến giữa tháng 8/2026, 35 trong tổng số 76 nhiệm vụ cụ thể đã hoàn thành, không có nhiệm vụ quá hạn. Nhiều chính sách đã được ban hành và từng bước đi vào thực tế.
Ở giáo dục đại học, đào tạo nhân lực cho STEM, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược đã có chuyển biến. Tỷ lệ sinh viên nhập học các ngành STEM năm 2026 tăng mạnh. Các chương trình đào tạo kỹ sư tài năng, thạc sĩ STEM được triển khai tại nhiều cơ sở giáo dục đại học. Theo GS. Nguyễn Đình Đức, đây là tín hiệu cho thấy đào tạo đang gắn rõ hơn với nhu cầu nhân lực của nền kinh tế.
Một chuyển động khác là cách tiếp cận đối với tự chủ đại học. Tự chủ được nhìn theo hướng đầy đủ hơn, không chỉ là tự chủ tài chính. Cơ chế đầu tư, phân bổ ngân sách cũng được đặt theo sứ mạng, chất lượng và hiệu quả. Chính sách thu hút nhân tài, chuyên gia, giảng viên giỏi và hỗ trợ đào tạo nhân lực chất lượng cao tiếp tục được hoàn thiện.
Dù vậy, GS. Nguyễn Đình Đức cho rằng những kết quả này mới tạo ra nền tảng. Thể chế có thể được ban hành trong thời gian ngắn, nhưng xây dựng đội ngũ giảng viên mạnh, đại học nghiên cứu có chất lượng hay một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cần nhiều năm. "Thể chế có thể ban hành trong vài tháng, nhưng xây dựng một đội ngũ giảng viên mạnh, một trường đại học nghiên cứu có đẳng cấp, một thế hệ người học có năng lực sáng tạo hay một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất cần nhiều năm", ông cho biết.
Vì vậy, theo ông, điều cần giữ được là chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển. Tự chủ phải đi cùng trách nhiệm giải trình. Nguồn lực phải đi cùng nhiệm vụ. Nếu văn bản thay đổi nhưng cách vận hành trong các cơ sở giáo dục không thay đổi thì rất khó tạo đột phá.
Vẫn tồn tại điểm nghẽn ở khâu thực thi
Theo GS. Nguyễn Đình Đức, thách thức lớn hiện nay không còn chủ yếu là "thiếu chủ trương", mà là tính đồng bộ của thể chế và năng lực thực thi.
Một trường đại học muốn đổi mới phải đồng thời thực hiện các quy định về giáo dục, khoa học - công nghệ, đầu tư công, ngân sách, tài sản công, đấu thầu viên chức, lao động, thuế và đất đai. Chỉ cần một mắt xích vẫn vận hành theo tư duy xin - cho hoặc nặng về kiểm soát thủ tục thì quá trình đổi mới có thể chậm lại. Vì thế, cải cách giáo dục không thể chỉ là việc của riêng ngành giáo dục.
Một vấn đề khác là khoảng cách giữa trao quyền và trách nhiệm.
Các trường tự chủ phải minh bạch, kiểm định chất lượng, công khai dữ liệu và chịu trách nhiệm về kết quả. Nhưng muốn chịu trách nhiệm thực chất thì các trường cũng phải có quyền thực chất về tổ chức, nhân sự, học thuật và tài chính. "Nếu trao trách nhiệm mà quyền quyết định vẫn phân tán, hoặc trao quyền nhưng không có nguồn lực và đội ngũ quản trị tương xứng, tự chủ sẽ trở nên hình thức", GS. Nguyễn Đình Đức nhận định.
Với giáo dục đại học, ông cho rằng hiện có ba điểm nghẽn chính là nguồn lực, con người và quản trị. Nghiên cứu đỉnh cao cần đầu tư dài hạn. Vì vậy, nguồn lực phải đủ lớn và tập trung cho các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm trọng điểm và trung tâm xuất sắc. Các trường cũng phải có khả năng thu hút, giữ chân nhà khoa học giỏi trong và ngoài nước. Điều này phụ thuộc vào thu nhập, môi trường làm việc, hạ tầng nghiên cứu và cơ hội phát triển nghề nghiệp.
Cùng với đó là năng lực quản trị. Tự chủ chỉ tạo ra kết quả khi cơ sở giáo dục có khả năng ra quyết định nhanh, minh bạch và dựa trên hiệu quả. GS. Nguyễn Đình Đức cũng cho rằng không nên yêu cầu tất cả các trường đại học cùng chạy theo một bộ chỉ số. Hệ thống cần có sự phân tầng và phân vai rõ giữa đại học nghiên cứu, đại học ứng dụng, trường phục vụ địa phương và các trường chuyên ngành.
Yêu cầu nâng chất lượng cũng cần được đặt lên trước trong quá trình sắp xếp hệ thống giáo dục đại học. Theo ông, "sắp xếp là phương tiện, nâng cao chất lượng mới là mục tiêu". Nếu chỉ lấy số đầu mối giảm được làm tiêu chí thì rất dễ dẫn tới ghép cơ học. Hai đơn vị yếu ghép lại chưa chắc tạo thành một đơn vị mạnh. Vì vậy, sau sắp xếp phải trả lời được cơ sở mới sẽ phát triển theo hướng nào, lĩnh vực nào được đầu tư, nguồn lực được tổ chức lại ra sao và kết quả nào chứng minh chất lượng tốt hơn trước.
Theo GS. Nguyễn Đình Đức, cần có "một đề án phát triển sau sáp nhập, chứ không chỉ có một đề án sáp nhập".

Nghị quyết 71 trong giai đoạn tiếp theo phải đo kết quả bằng tác động - Ảnh minh họa
Năm thứ hai thực hiện Nghị quyết 71, phải đo được kết quả bằng tác động
Bước sang năm thứ hai, GS. Nguyễn Đình Đức cho rằng cần chọn ít việc nhưng làm đến cùng. Nếu tiếp tục triển khai dàn trải nhiều chương trình, đề án thì nguồn lực và trách nhiệm dễ bị phân tán.
Việc đầu tiên là xử lý những "mắt xích cuối" của thể chế. Các quy định đang cản trở tự chủ đại học, tuyển dụng nhân tài, đầu tư phòng thí nghiệm, sử dụng tài sản công, mua sắm thiết bị nghiên cứu hay thương mại hóa kết quả khoa học cần được rà soát. Mỗi vướng mắc phải xác định rõ nơi chịu trách nhiệm và thời hạn xử lý.
Tiếp đó là tập trung nguồn lực. Ở giáo dục đại học, theo GS. Nguyễn Đình Đức, cần ưu tiên cho đại học nghiên cứu, khoa học cơ bản, kỹ thuật, công nghệ chiến lược, R&D, phòng thí nghiệm và đào tạo sau đại học. Ngân sách cần đi theo sứ mạng, chất lượng và kết quả, thay vì phân bổ tương đối bình quân.
Đội ngũ cũng là một ưu tiên. Các trường cần có cơ chế đủ sức cạnh tranh để thu hút nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia quốc tế và tạo cơ hội phát triển cho người trẻ có năng lực. Song song với đó, cần kết nối chặt hơn giữa dự báo nhu cầu nhân lực, tuyển sinh, đào tạo, nghiên cứu, doanh nghiệp và việc làm. Dữ liệu giáo dục và dữ liệu thị trường lao động phải được kết nối để các trường có căn cứ khi tổ chức đào tạo và doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình này. Theo GS. Nguyễn Đình Đức, một thay đổi quan trọng khác là cách đánh giá hiệu quả.
Không nên chỉ hỏi đã ban hành bao nhiêu văn bản hay tổ chức bao nhiêu hội nghị. Cần nhìn vào chất lượng người học, tỷ lệ việc làm, năng suất nghiên cứu, sáng chế, công nghệ được doanh nghiệp sử dụng và khả năng thu hút nhà khoa học giỏi. "Khi chuyển được từ ‘đo công việc’ sang ‘đo tác động’, bộ máy sẽ tự thay đổi cách làm", ông nhấn mạnh.
GS. Nguyễn Đình Đức khẳng định, năm đầu đã tạo nền tảng về thể chế và chính sách. Năm thứ hai phải chuyển từ "mở đường" sang "tạo kết quả". Kết quả đó phải được thể hiện bằng chất lượng người học, chất lượng đội ngũ, năng lực nghiên cứu - đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh của nguồn nhân lực.
Thu Trang