• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Nhận diện những nút thắt trong ứng dụng khoa học, công nghệ vào nông nghiệp

(Chinhphu.vn) - Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực trực tiếp nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn từ các doanh nghiệp cho thấy, để công nghệ thực sự tạo ra giá trị và thúc đẩy tăng trưởng, cần tháo gỡ đồng bộ những điểm nghẽn về vùng nguyên liệu, cơ chế chính sách, hạ tầng dữ liệu và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

27/10/2026 16:22
Ứng dụng khoa học công nghệ: Nhận diện những nút thắt từ đề xuất của doanh nghiệp - Ảnh 1.

Ông Đinh Cao Khuê, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam - Ảnh: chinhphu.vn/Đỗ Hương

Từ vùng nguyên liệu đến chế biến sâu: Dư địa gia tăng giá trị còn lớn

Tại Hội nghị “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành NN&MT” do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công an tổ chức ngày 27/10, các doanh nghiệp và nhà khoa học đã chỉ ra những nút thắt cốt lõi, đồng thời đề xuất giải pháp đưa khoa học, công nghệ đi sâu vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh.

Vùng nguyên liệu thiếu quy mô, chất lượng chưa đồng đều và chưa đáp ứng yêu cầu chế biến sâu đang là rào cản lớn đối với nhiều ngành hàng nông, lâm sản. Bên cạnh đó, năng lực làm chủ giống và công nghệ chế biến cũng quyết định khả năng nâng cao giá trị, sức cạnh tranh của sản phẩm.

Theo ông Đinh Cao Khuê, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Chủ tịch DOVECO, kim ngạch xuất khẩu rau quả tăng từ 3,2 tỷ USD năm 2020 lên 8,56 tỷ USD năm 2025, dự kiến đạt 9,5-10 tỷ USD năm 2026. Theo ông, mục tiêu 20 tỷ USD có thể đạt được nếu những điểm nghẽn về nguyên liệu và công nghệ được giải quyết.

Thực tiễn tại DOVECO cho thấy, làm chủ công nghệ giống có thể tạo ra bước chuyển rõ rệt về năng suất và giá trị. Từ chỗ phụ thuộc vào giống chanh leo nhập khẩu, doanh nghiệp đã hợp tác với các viện, trường để chủ động nguồn giống chất lượng cao. Với cây dứa, việc chuyển từ giống Queen, năng suất khoảng 50 tấn/ha, sang Cayenne đạt 70 tấn/ha và MD2 đạt khoảng 100 tấn/ha đã mở ra cơ hội nâng cao giá trị, trong đó giá bán sản phẩm có thể tăng gấp đôi so với giống truyền thống.

Để phát huy tiềm năng, doanh nghiệp kiến nghị đẩy mạnh nghiên cứu, nhân giống MD2 bằng công nghệ nuôi cấy mô; đầu tư hệ thống tưới; tăng cường liên kết viện – trường – doanh nghiệp và số hóa toàn bộ chuỗi sản xuất, từ quản lý vùng trồng, kiểm soát chi phí đến chế biến, tiêu thụ.

Tương tự, ngành gỗ xuất khẩu cũng đối mặt với bài toán nguyên liệu và công nghệ. Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Woodsland, cho biết nhiều diện tích keo bị khai thác khi mới 4-5 năm tuổi, khiến chất lượng gỗ chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất nội thất cao cấp.

Trong khi đó, giá trị gia tăng từ chế biến sâu rất lớn: 1 m³ gỗ keo tròn có giá khoảng 2 triệu đồng, nhưng có thể tạo ra thành phẩm nội thất trị giá 1.500-2.500 USD/m³. Doanh nghiệp đề xuất phát triển giống cây lâm nghiệp chất lượng cao, quy hoạch vùng trồng gỗ lớn có chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC, đồng thời tăng cường hợp tác nghiên cứu, ứng dụng công nghệ chế biến.

Những dẫn chứng này cho thấy, nâng cao giá trị nông sản không thể chỉ dựa vào mở rộng sản lượng, mà cần gắn quy hoạch vùng nguyên liệu với giống chất lượng cao, tiêu chuẩn sản xuất và công nghệ chế biến sâu.

Ứng dụng khoa học công nghệ: Nhận diện những nút thắt từ đề xuất của doanh nghiệp - Ảnh 2.

Ông Nguyễn Như So, Chủ tịch Tập đoàn Dabaco Việt Nam - Ảnh: chinhphu.vn/Đỗ Hương

Thể chế và quy chuẩn cần theo kịp yêu cầu phát triển công nghệ

Trong chăn nuôi, ứng dụng công nghệ cao đòi hỏi sự đồng bộ giữa chọn tạo giống, quản lý môi trường, nguồn nguyên liệu và cơ chế chính sách.

Ông Nguyễn Như So, Chủ tịch Tập đoàn Dabaco Việt Nam, cho biết ngành chăn nuôi đang phụ thuộc khoảng 65% nguyên liệu thức ăn nhập khẩu, đồng thời chịu sức ép cạnh tranh từ sản phẩm ngoại. Dabaco đã đầu tư cho công nghệ gen nhằm chọn tạo giống lợn năng suất cao, đồng thời bảo tồn các nguồn gen vật nuôi bản địa.

Từ thực tiễn này, doanh nghiệp kiến nghị hoàn thiện chính sách hỗ trợ chăn nuôi công nghệ cao theo chuỗi khép kín; xây dựng cơ chế công nhận các giống vật nuôi do doanh nghiệp nghiên cứu; phát triển nguồn nguyên liệu thức ăn trong nước; điều tiết năng lực sản xuất phù hợp với cung – cầu; rà soát quy chuẩn môi trường theo hướng khả thi và có lộ trình, đồng thời thúc đẩy chế biến sâu.

Một vướng mắc khác được ông Ngô Minh Hải, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn TH, nêu ra là quy định khoảng cách tối thiểu 400 m từ trang trại chăn nuôi quy mô lớn đến khu dân cư. Theo doanh nghiệp, quy định này gây khó khăn cho các trang trại hiện hữu khi nâng cấp, mở rộng và ứng dụng công nghệ mới, kể cả khi đã đầu tư hệ thống xử lý môi trường hiện đại.

Tập đoàn TH kiến nghị không áp dụng hồi tố quy định khoảng cách đối với các trang trại đã xây dựng trước thời điểm ban hành, đồng thời xem xét công nhận các giải pháp công nghệ tiên tiến đáp ứng tiêu chuẩn môi trường thay cho yêu cầu di dời. Doanh nghiệp cũng đề xuất hoàn thiện tiêu chuẩn nông nghiệp phát thải thấp, kinh tế tuần hoàn và cơ chế tín chỉ carbon.

Thực tế cho thấy, chính sách không chỉ cần tạo động lực đầu tư mà còn phải bảo đảm tính ổn định, khả thi và phù hợp với tiến bộ công nghệ, qua đó giúp doanh nghiệp mạnh dạn đổi mới, nâng cấp sản xuất.

Ứng dụng khoa học công nghệ: Nhận diện những nút thắt từ đề xuất của doanh nghiệp - Ảnh 3.

GS.TS. Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam - Ảnh: chonhphu.vn/Đỗ Hương

Số hóa dữ liệu và tháo gỡ điểm nghẽn thương mại hóa nghiên cứu

Bên cạnh vùng nguyên liệu và thể chế, dữ liệu phân tán, thiếu chuẩn hóa và khoảng cách giữa nghiên cứu với thị trường đang cản trở quá trình ứng dụng khoa học, công nghệ trong nông nghiệp.

Theo bà Nguyễn Thị Vinh, Chủ tịch Công ty Cổ phần Chè Quân Chu, chè tươi có giá khoảng 25.000-30.000 đồng/kg, trong khi chè chế biến sâu có thể đạt hàng trăm nghìn đến hàng triệu đồng/kg. Để khai thác giá trị này, doanh nghiệp đề xuất xây dựng hệ sinh thái kinh tế trà dựa trên công nghệ số, bao gồm số hóa, chuẩn hóa vùng trồng, xây dựng bản đồ thổ nhưỡng và hồ sơ cây chè di sản nhằm bảo tồn nguồn gen, phát huy giá trị tài nguyên bản địa.

Muốn vậy, cơ quan quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ trong xây dựng dữ liệu, chuyển giao công nghệ và phát triển sản phẩm thương mại.

Đáng chú ý, kết quả nghiên cứu chưa được đưa vào thực tiễn là điểm nghẽn nổi bật. Theo Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an, thống kê tại 34 địa phương cho thấy có 451 sản phẩm khoa học, công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp, nhưng 341 sản phẩm, tương đương khoảng 76%, vẫn ở giai đoạn nghiên cứu. Tỷ lệ được ứng dụng và thương mại hóa chỉ đạt khoảng 24%.

GS.TS. Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cho biết mô hình thành lập doanh nghiệp spin-off để thương mại hóa sản phẩm kháng thể IgY cho vịt đã mang lại doanh thu 12 tỷ đồng và khoản bản quyền 5% cho Học viện. Tuy nhiên, nhiều kết quả nghiên cứu tiềm năng vẫn gặp khó khăn về kinh phí sản xuất thử, định giá tài sản trí tuệ và cơ chế góp vốn.

Học viện kiến nghị khuyến khích doanh nghiệp tham gia ngay từ khâu xác định bài toán nghiên cứu, cùng đầu tư hoàn thiện sản phẩm và chia sẻ lợi ích kinh tế. Cách tiếp cận này giúp nghiên cứu bám sát nhu cầu thị trường, giảm khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và sản xuất.

Đỗ Hương