• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Phê duyệt Chiến lược phát triển ngành giấy tầm nhìn đến năm 2045

(Chinhphu.vn) - Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định số 2082/QĐ-TTg ngày 2/11/2026 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành giấy giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Chiến lược).

02/11/2026 19:55
Phê duyệt Chiến lược phát triển ngành giấy tầm nhìn đến năm 2045 - Ảnh 1.

Đến 2045, ngành công nghiệp giấy Việt Nam trở thành ngành công nghiệp xanh, phát triển bền vững

Chiến lược đặt mục tiêu tổng quát là phát triển ngành công nghiệp giấy Việt Nam đồng bộ, hiện đại, đáp ứng toàn diện nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nước cả về sản lượng, chất lượng, chủng loại; đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh.

Đầu tư các dự án quy mô đủ lớn, sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu và năng lượng, giảm thiểu chất thải phát sinh, giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ môi trường theo định hướng kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số đưa ngành công nghiệp giấy Việt Nam trở thành ngành công nghiệp xanh, mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

Đến 2030, tập trung đầu tư tối thiểu 3 vùng nguyên liệu giấy trọng điểm

Giai đoạn đến năm 2030, ngành giấy phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng sản lượng giấy và bột giấy bình quân hàng năm từ 10,0% trở lên, đáp ứng nhu cầu trong nước và hướng tới xuất khẩu, giảm sự mất cân đối và phụ thuộc vào nhập khẩu; kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân tối thiểu 4,0%/năm trong giai đoạn đến năm 2030.

Quy hoạch, tập trung đầu tư tối thiểu 03 vùng nguyên liệu giấy trọng điểm tại các khu vực: miền Bắc, miền Trung, Tây Nguyên, đảm bảo phát triển bền vững và đáp ứng nhu cầu sản xuất bột giấy cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Khuyến khích các doanh nghiệp giấy thiết lập, đầu tư hệ thống thu gom, thu hồi giấy sau sử dụng (giấy phế liệu) trong nước; thực hiện trách nhiệm tái chế của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bao bì theo quy định của pháp luật. Tỷ lệ thu hồi giấy sau sử dụng trong nước đạt >60%, giải quyết được nguy cơ thiếu hụt nguồn nguyên liệu cho sản xuất giấy.

Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư tối thiểu 3 khu công nghiệp giấy tập trung trọng điểm tại 3 khu vực: Bắc, Trung, Nam để tập trung các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ nhằm tối ưu chi phí đầu tư, chi phí vận hành, tăng khả năng cạnh tranh.

Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mới từ 5 đến 10 nhà máy sản xuất giấy có quy mô trên 250.000 tấn giấy/năm; từ 2 đến 5 nhà máy sản xuất bột giấy có quy mô từ 200.000 tấn bột/năm trở lên; từ 2 đến 5 nhà máy sản xuất giấy chất lượng cao, giấy đặc chủng đòi hỏi công nghệ kỹ thuật cao, vốn đầu tư lớn.

Đến 2045, ngành công nghiệp giấy Việt Nam trở thành ngành công nghiệp xanh, phát triển bền vững

Từ năm 2030, khuyến khích các doanh nghiệp có quy mô công suất nhỏ cơ cấu lại và/hoặc sáp nhập và chuyển vào khu công nghiệp tập trung, cụ thể: với bột giấy, giấy bao bì, giấy in, viết thông thường công suất 01 dây chuyền < 5.000 tấn/năm; từ năm 2040 trở đi hạn chế các dây chuyền sản xuất bột giấy, giấy bao bì, giấy in, viết thông thường công suất 01 dây chuyền < 20.000 tấn/năm, giấy tissue < 5.000 tấn/năm; không giới hạn quy mô với các sản phẩm giấy tráng phủ chất lượng cao và giấy đặc chủng.

Tầm nhìn đến năm 2045, ngành công nghiệp giấy Việt Nam có công nghệ tiên tiến, hiện đại, tiết kiệm, cân đối tự chủ về nguyên liệu, nhiên liệu và năng lượng, phát thải thấp, bảo vệ môi trường, trở thành ngành công nghiệp xanh và phát triển bền vững, đủ sức cạnh tranh với ngành giấy của các quốc gia phát triển trên thị trường trong nước và quốc tế.

5 nhiệm vụ và giải pháp

Để đạt được các mục tiêu trên, Chiến lược đặt ra 5 nhiệm vụ và giải pháp: 1- Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển ngành giấy; 2- Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm giấy; 3- Phát triển nguồn nhân lực cho ngành giấy; 4- Đổi mới khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; 5- Phát triển bền vững và xanh hoá ngành công nghiệp giấy.

Ưu tiên các dự án đầu tư công nghệ tiên tiến, công nghệ xanh, không gây tác động xấu đến môi trường

Về hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển ngành giấy, Chiến lược sẽ xây dựng kế hoạch và tổ chức các hội nghị xúc tiến, kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực nguồn trong ngành giấy, sản xuất bột giấy công nghệ mới, sản xuất các sản phẩm mới có nguồn gốc tự nhiên, thân thiện môi trường; ưu tiên các dự án đầu tư công nghệ tiên tiến, công nghệ xanh, không gây tác động xấu đến môi trường và kết nối với các doanh nghiệp trong nước, nước ngoài, hình thành chuỗi liên kết toàn cầu.

Nhanh chóng xây dựng quy hoạch phát triển vùng trọng điểm rừng trồng nguyên liệu giấy phục vụ sản xuất công nghiệp quy mô lớn, có xét đến lợi thế so sánh giữa các địa phương.

Nghiên cứu, xây dựng các khu công nghiệp giấy tập trung trọng điểm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ giảm chi phí đầu tư hạ tầng và xử lý môi trường tập trung góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành, đảm bảo vấn đề môi trường.

Xây dựng quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia đối với các sản phẩm trong ngành, đặc biệt về thu gom và tái chế giấy. Nghiên cứu hoàn thiện chính sách phát triển ngành nói chung và nhập khẩu nói riêng theo xu hướng của các nước phát triển đối với ngành công nghiệp giấy.

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm giấy 

Đối với thị trường xuất nhập khẩu, Chiến lược sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận trực tiếp với khách hàng tiềm năng thông qua các hoạt động tham gia hội chợ triển lãm, xúc tiến thương mại, đầu tư; phát triển thị trường, kết nối kinh doanh. Tạo mọi điều kiện để nâng cao khả năng mở rộng thị trường của doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm thị trường tiêu thụ ở trong và ngoài nước.

Nâng cao năng lực marketing, tiếp cận khách hàng và thị trường của đội ngũ bán hàng trong các doanh nghiệp ngành giấy. Khuyến khích các doanh nghiệp phối hợp với các nền tảng thương mại điện tử nhằm thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong chuỗi cung ứng.

Đối với thị trường trong nước, cần tổ chức mạng lưới bán lẻ trong nước, đổi mới phương thức tiếp thị xuất khẩu, đồng thời quan tâm đến việc xây dựng, quảng bá thương hiệu sản phẩm, xây dựng hình ảnh của ngành công nghiệp giấy Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế; triển khai hiệu quả Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam".

Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Về phát triển nguồn nhân lực cho ngành giấy, Chiến lược xây dựng các tiêu chuẩn về việc làm đáp ứng các yêu cầu của Quy tắc kinh doanh có trách nhiệm, phù hợp với thông lệ quốc tế về chuỗi giá trị có trách nhiệm trong ngành; hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các quy trình thẩm định chuỗi cung ứng hiệu quả, nâng cao năng lực của ngành và người lao động về các quy chuẩn liên quan đến việc làm bền vững và thẩm định doanh nghiệp, ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro môi trường, lao động.

Xây dựng và triển khai đồng bộ kế hoạch phát triển nguồn nhân lực có chất lượng, đảm bảo cung ứng cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh và phát triển của ngành và của các nhà đầu tư. 

Tăng cường phổ biến thông tin về nhu cầu lao động trong ngành đặc biệt trước các kỳ tuyển sinh của các cơ sở đào tạo; đẩy mạnh, khuyến khích phát triển các mô hình kết nối, hợp tác giữa Hiệp hội, Viện nghiên cứu, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo như cập nhật thông tin, tài liệu; đầu tư trang thiết bị nghiên cứu, thực hành nhằm đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng của lao động.

Xây dựng và triển khai hiệu quả các giải pháp hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chú trọng vào các kỹ năng mới cần thiết cho ngành trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, hội nhập quốc tế, các kỹ năng về thiết kế, phát triển sản phẩm, và kết nối các cơ sở đào tạo trong nước với nước ngoài./.