• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Siết kiểm soát ô nhiễm, khơi thông nguồn lực cho chuyển đổi xanh

(Chinhphu.vn) - Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, chiều 6/11, dưới sự chủ trì của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

06/11/2026 19:25
Siết kiểm soát ô nhiễm, khơi thông nguồn lực cho chuyển đổi xanh - Ảnh 1.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành phiên thảo luận chiều 6/11 - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Kiểm soát chặt ô nhiễm nguồn nước

Góp ý về dự án Luật, đại biểu Huỳnh Thị Anh Thảo (tỉnh Gia Lai) đề nghị hoàn thiện các quy định về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, vận hành công trình xử lý chất thải và quản lý rác thải.

Về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, đại biểu đề nghị quy định theo hướng không làm gia tăng tải lượng đối với thông số ô nhiễm đã vượt khả năng chịu tải, trừ trường hợp có giải pháp giảm tải hoặc xử lý được kiểm chứng, bảo đảm không làm suy giảm chất lượng nguồn nước tiếp nhận.

Theo đại biểu, một dòng sông có thể quá tải ở thông số chất hữu cơ nhưng vẫn còn khả năng chịu tải đối với một số thông số khác. Nếu tiếp tục cho phép các dự án mới xả thêm chất ô nhiễm đã vượt khả năng chịu tải, tình trạng ô nhiễm có thể kéo dài, ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản và sản xuất nông nghiệp ở hạ lưu.

Đối với việc dự kiến bỏ thủ tục vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải, đại biểu cho rằng cần đi kèm nghĩa vụ kiểm chứng hiệu quả xử lý, nhất là với nguồn thải có nguy cơ cao. Doanh nghiệp cần có dữ liệu kiểm chứng trong giai đoạn vận hành ban đầu, lưu giữ kết quả quan trắc và có cơ chế ngăn ngừa xả thải khi công trình chưa đáp ứng yêu cầu.

Về thu gom rác thải, đại biểu đề nghị khi từ chối tiếp nhận chất thải không được phân loại hoặc sử dụng bao bì không đúng quy định, đơn vị thu gom phải thông báo lý do, hướng dẫn khắc phục và phối hợp với người quản lý điểm tập kết để xử lý. Phạm vi từ chối cần tương ứng với phần chất thải không đáp ứng yêu cầu, tránh ảnh hưởng đến phần rác đã phân loại đúng và có thể thu gom riêng.

Đồng thời, cần phân định trách nhiệm khắc phục, thời điểm thu gom lại và phương án xử lý rác tồn đọng có nguy cơ gây ô nhiễm. Việc thu gom để bảo đảm vệ sinh không thay thế cho việc xem xét, xử lý hành vi vi phạm…

Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (tỉnh Lâm Đồng) đồng tình với định hướng loại bỏ hình thức nhà sản xuất, nhập khẩu đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường để cơ quan quản lý nhà nước tổ chức tái chế thay doanh nghiệp.

Tuy nhiên, đại biểu đề nghị hoàn thiện cơ chế ủy quyền cho tổ chức trung gian, quy định rõ tiêu chí về năng lực tài chính, nhân sự, khả năng tổ chức hệ thống thu gom, tái chế; trách nhiệm báo cáo, chứng minh kết quả và hoàn thành mục tiêu tái chế do Nhà nước quy định.

Đại biểu cũng đề nghị làm rõ trách nhiệm pháp lý giữa tổ chức trung gian và doanh nghiệp ủy quyền, bảo đảm việc ủy quyền không làm giảm trách nhiệm của nhà sản xuất, nhập khẩu; đồng thời tăng cường giám sát và có cơ chế phối hợp với chính quyền địa phương để kết nối mạng lưới thu gom, cơ sở tái chế.

Về quản lý, sử dụng kinh phí hỗ trợ xử lý chất thải tại Điều 55, đại biểu đề nghị quy định thống nhất phạm vi, nội dung chi, bởi đây là nguồn kinh phí đóng góp của doanh nghiệp, không phải ngân sách nhà nước nhưng được giao cho địa phương quản lý.

Nguồn kinh phí này cần được sử dụng để hỗ trợ thu gom, phân loại, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải; nghiên cứu, ứng dụng công nghệ của Việt Nam và đầu tư, nâng cấp hạ tầng, trang thiết bị tại các khu vực khó khăn, nông thôn, miền núi, hải đảo. Đồng thời, cần bảo đảm chi đúng mục đích, tránh chồng chéo nguồn lực, nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường.

Siết kiểm soát ô nhiễm, khơi thông nguồn lực cho chuyển đổi xanh - Ảnh 2.

Đại biểu Huỳnh Thị Anh Thảo (tỉnh Gia Lai) nêu ý kiến tại hội trường - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Làm rõ quyền đối với tín chỉ carbon

Tán thành việc sửa đổi Luật, đại biểu Bùi Văn Dũng (tỉnh Thanh Hóa) cho rằng, yêu cầu cải cách thủ tục, tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và chuyển đổi xanh đặt ra đòi hỏi cấp thiết phải hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường. Ô nhiễm nước, không khí, áp lực chất thải và hạ tầng xử lý chưa đồng bộ đang ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh kế của người dân và khả năng thu hút đầu tư.

Theo đại biểu, việc sửa đổi Luật cũng nhằm cụ thể hóa quan điểm của Nghị quyết Đại hội XIV về phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường, đồng thời thực hiện Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Để tăng trưởng hai con số bền vững, cần nâng giá trị tạo ra trên mỗi đơn vị tài nguyên, giảm phát thải và chi phí khắc phục ô nhiễm. Giới hạn sinh thái, dữ liệu và rủi ro môi trường cần trở thành căn cứ khi quyết định đầu tư. Đại biểu nhấn mạnh quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế; trách nhiệm của chủ thể hưởng lợi phải được xác định ngay từ quyết định đầu tư, gắn nghĩa vụ chi trả chi phí ô nhiễm với trách nhiệm phòng ngừa tổn hại, bảo vệ cộng đồng, sinh kế và điều kiện sống của các thế hệ sau.

Ghi nhận cơ quan soạn thảo đã tiếp thu ý kiến sau thảo luận tổ, đại biểu đánh giá dự thảo chú trọng quản lý theo rủi ro, tăng hậu kiểm bằng dữ liệu, kiểm soát tổng tải lượng chất ô nhiễm theo lưu vực, thúc đẩy sử dụng vật liệu tái chế và phát triển thị trường carbon.

Về kiểm soát xả thải, đại biểu chỉ ra điểm a khoản 5 Điều 1 dự thảo, sửa đổi khoản 2 Điều 7, vẫn gắn điều kiện hạn chế xả thải với việc nguồn nước hết khả năng chịu tải đối với tất cả các thông số bắt buộc đánh giá. Theo đại biểu, nếu một đoạn sông đã quá tải về tổng nitrogen thì việc còn khả năng tiếp nhận các chất khác cũng không làm giảm rủi ro do nitrogen. Nước thải có nồng độ chất ô nhiễm thấp nhưng lưu lượng xả lớn vẫn có thể làm tăng đáng kể tổng tải lượng.

Về tín chỉ carbon, đại biểu cho biết khoản 61 Điều 1 dự thảo sửa đổi Điều 139 theo hướng xác định tín chỉ carbon là hàng hóa giao dịch, trong khi địa vị pháp lý của tín chỉ vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu. Đại biểu đề nghị đối chiếu quy định về quyền tài sản tại Điều 115 Bộ luật Dân sự để làm rõ quyền của chủ thể có tín chỉ hợp lệ, điều kiện chuyển giao và hậu quả pháp lý khi tín chỉ bị thu hồi hoặc hủy bỏ. Đồng thời, cần phân định rõ tín chỉ carbon và hạn ngạch phát thải do có căn cứ hình thành khác nhau.

Theo đại biểu, việc làm rõ quyền và rủi ro pháp lý sẽ giúp doanh nghiệp tính toán đầu tư công nghệ sạch, bảo đảm quyền hưởng lợi hợp pháp của những chủ thể bỏ vốn, công sức để giảm phát thải, đồng thời gắn lợi ích tăng trưởng với trách nhiệm bảo vệ môi trường.

Diệu Anh