• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Sửa quy định về chế độ ăn, mặc và đồ dùng sinh hoạt của học sinh trường giáo dưỡng

(Chinhphu.vn) - Chính phủ ban hành Nghị định số 108/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 140/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc.

06/04/2026 22:26
Sửa quy định về chế độ ăn, mặc và đồ dùng sinh hoạt của học sinh trường giáo dưỡng- Ảnh 1.

Sửa quy định về chế độ ăn, mặc và đồ dùng sinh hoạt của học sinh trường giáo dưỡng

Chế độ ăn, mặc và đồ dùng sinh hoạt của học sinh trường giáo dưỡng

Trong đó, Nghị định 108/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 17 của Nghị định số 140/2021/NĐ-CP về chế độ ăn, mặc và đồ dùng sinh hoạt của học sinh trường giáo dưỡng.  

Theo đó, học sinh được Nhà nước đảm bảo, tiêu chuẩn ăn định lượng mỗi tháng gồm: 20 kg gạo tẻ; 1,5 kg thịt lợn; 1,5 kg cá; 08 quả trứng gà hoặc trứng vịt; 0,5 kg đường; 0,75 lít nước mắm; 0,1 kg bột ngọt; 0,5 kg muối; 17 kg rau xanh, củ, quả; 0,2 lít dầu ăn; gia vị khác tương đương 0,5 kg gạo tẻ; chất đốt tương đương 17 kg củi hoặc 15 kg than.

Lương thực, thực phẩm, chất đốt bảo đảm chất lượng và có mức giá trung bình theo thời giá tại địa phương.

Chế độ ăn trong các ngày lễ, tết của học sinh được tăng thêm nhưng không được quá 5 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường.

Ngoài tiêu chuẩn ăn nêu trên, học sinh được sử dụng tiền của mình để ăn thêm và phải thông qua hệ thống lưu ký và căng tin phục vụ sinh hoạt cho học sinh của trường giáo dưỡng.

Hiệu trưởng trường giáo dưỡng có thể hoán đổi định lượng ăn nêu trên cho phù hợp với thực tế để đảm bảo học sinh ăn hết tiêu chuẩn ăn. Hiệu trưởng trường giáo dưỡng quyết định chế độ ăn đối với học sinh ốm đau, bệnh tật, thương tích trên cơ sở đề xuất của y sĩ hoặc bác sĩ trường giáo dưỡng hoặc theo chỉ định của bác sĩ tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng tổng định lượng mức ăn không quá 5 lần tiêu chuẩn.

Mỗi phân hiệu của trường giáo dưỡng được tổ chức ít nhất một bếp ăn tập thể. Định mức dụng cụ cấp dưỡng của một bếp tập thể dùng cho 100 học sinh gồm: 1 tủ đựng thức ăn có lưới hoặc kính che kín, 3 chảo to, 1 chảo nhỏ, 1 nồi to dùng trong 3 năm; các loại dao, thớt, chậu rửa bát, rổ, rá, bát, đũa dùng trong 01 năm và các dụng cụ, trang thiết bị cấp dưỡng cần thiết khác phục vụ việc nấu ăn và chia khẩu phần ăn cho học sinh.

Dụng cụ cấp dưỡng dùng cho 1 mâm ăn của 6 học sinh bao gồm 1 lồng bàn, 1 xoong đựng cơm, 1 xoong đựng canh dùng trong 2 năm; 2 đĩa đựng thức ăn, 1 bát đựng nước chấm, 1 muôi múc cơm, 1 muôi múc canh dùng trong 1 năm.

Dụng cụ cấp dưỡng dùng cho 1 học sinh ăn riêng theo suất gồm 1 cặp lồng có 4 ngăn hoặc khay có 5 ngăn bằng nhựa chuyên dùng đựng đồ ăn cơm và 1 thìa ăn cơm bằng nhựa dùng trong 2 năm.

Học sinh được sử dụng điện, nước đảm bảo yêu cầu sinh hoạt hằng ngày. 

Chế độ mặc, đồ dùng sinh hoạt của học sinh trong năm được cấp như sau: 2 bộ quần áo dài; 1 bộ quần áo dài đồng phục; 2 bộ quần áo lót; 2 đôi dép nhựa; 1 áo mưa nilông; 1 mũ cứng; 1 mũ vải; 3 khăn mặt; 3 bàn chải đánh răng; 2 chiếu cá nhân; 800g kem đánh răng; 3,6 kg xà phòng; 800 ml dầu gội đầu.

Học sinh vào trường giáo dưỡng được cấp 1 màn, 1 chăn sợi, 1 gối vải cotton lõi bông. Đối với các trường giáo dưỡng từ thành phố Đà Nẵng trở ra phía Bắc, mỗi học sinh được cấp 1 áo ấm, 2 đôi tất, 1 mũ len và 1 chăn bông có vỏ nặng không quá 2 kg dùng trong 2 năm. Đối với học sinh phải chấp hành từ 12 tháng trở lên thì được cấp 2 lần (trừ chăn bông).

Học sinh được mang vào trường giáo dưỡng những đồ dùng cá nhân thiết yếu để sử dụng theo quy định của Bộ Công an. Học sinh nữ được cấp đồ dùng cần thiết cho vệ sinh cá nhân không quá 5 kg gạo tẻ/học sinh/tháng.

Học sinh tham gia lao động, học nghề đối với những công việc mà pháp luật quy định phải có bảo hộ lao động thì mỗi năm phát thêm 2 bộ quần áo, đồ bảo hộ lao động, học nghề cho học sinh.

Bộ trưởng Bộ Công an quy định mẫu quần áo đồng phục, đồ bảo hộ lao động, học nghề của học sinh.

Chế độ chăm sóc y tế đối với học sinh

Bên cạnh đó, Nghị định 108/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1, Điều 19 về chế độ chăm sóc y tế đối với học sinh.

Theo đó, học sinh khi đến trường giáo dưỡng được y tế của trường giáo dưỡng tổ chức khám sức khỏe theo đúng quy định. Trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, học sinh được khám sức khỏe định kỳ 6 tháng một lần, cụ thể: Đo chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình, kiểm tra các thông số về nhịp tim, huyết áp, nhiệt độ cơ thể, khám lâm sàng toàn diện theo các chuyên khoa, khám cận lâm sàng theo chỉ định của bác sĩ. Chi phí khám sức khỏe định kỳ cho học sinh được thanh toán theo khung giá quy định của Bộ Y tế. Kết quả khám sức khỏe định kỳ của học sinh được lưu vào hồ sơ để quản lý. Tiền thuốc chữa bệnh thông thường, vật tư y tế cho học sinh được cấp tương đương 7 kg gạo tẻ/01 học sinh/01 tháng.

Trường hợp học sinh khi bị bệnh hoặc thương tích được điều trị tại bệnh xá trường giáo dưỡng, nếu vượt quá khả năng điều trị được chuyển đến cơ sở y tế phù hợp để điều trị và thông báo cho cha, mẹ hoặc người giám hộ của học sinh biết, phối hợp với nhà trường chăm sóc, điều trị. Trường hợp tiếp tục vượt quá khả năng điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng xem xét, quyết định việc điều trị tiếp theo, đồng thời báo cáo Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, Bộ Công an.

Đối với học sinh có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về tâm thần của Nhà nước nơi đơn vị đóng quân tổ chức khám và điều trị theo quy định của pháp luật.

Đối với học sinh có tiền sử nghiện ma tuý, căn cứ điều kiện, khả năng trường giáo dưỡng tổ chức khám bệnh, chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng; trường hợp học sinh có đủ tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện ma túy thì phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan tổ chức cai nghiện theo quy định.

Trường giáo dưỡng thường xuyên có biện pháp phòng, chống dịch bệnh, thực hiện các biện pháp phòng, chống lây nhiễm, điều trị HIV/AIDS và các bệnh truyền nhiễm khác cho học sinh.

Kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho học sinh do Nhà nước chi trả, trừ trường hợp người thân thích hoặc người đại diện hợp pháp của học sinh tự nguyện chi trả kinh phí điều trị bệnh. Học sinh đang có bảo hiểm y tế tiếp tục được hưởng bảo hiểm y tế, phần kinh phí phải trả thêm ngoài bảo hiểm do Nhà nước cấp. Trường hợp có cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ khả năng điều trị mà tự nguyện khám bệnh, chữa bệnh miễn phí cho học sinh thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng xem xét quyết định.

Ngoài ra, Nghị định cũng sửa đổi, bổ sung Điều 24 quy định về chế độ thăm gặp người thân thích và chế độ liên lạc theo hướng quy định cụ thể số lần, tăng số giờ thăm gặp, liên lạc; bổ sung quy định sử dụng ứng dụng VNeID để làm thủ tục; bổ sung hình thức gửi thư và nhận thư qua đường bưu chính; bổ sung hình thức liên lạc là kết nối hình ảnh, âm thanh bằng phương tiện điện tử; bỏ quy định học sinh có liên quan đến vụ án hình sự khác đang được xem xét, xử lý thì không được liên lạc điện thoại với người thân thích.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ 15/05/2026.

Minh Hiển

Tham khảo thêm