• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Tetra Pak: Nghị quyết 10 mở không gian hợp tác mới giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt

(Chinhphu.vn) - Trao đổi với Báo Điện tử Chính phủ, bà Nguyễn Thanh Giang, Tổng Giám đốc Tetra Pak Việt Nam chia sẻ cách doanh nghiệp hiện thực hóa tinh thần của Nghị quyết 10, đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước, hướng tới phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành thực phẩm - đồ uống Việt Nam.

03/08/2026 14:01
Tetra Pak: Nghị quyết 10 mở không gian hợp tác mới giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt- Ảnh 1.

Tổng Giám đốc Tetra Pak Việt Nam Nguyễn Thanh Giang: Nghị quyết 10-NQ/TW phản ánh rất rõ định hướng mà Tetra Pak đã theo đuổi tại Việt Nam trong nhiều năm qua.

Nghị quyết 10-NQ/TW đánh dấu bước chuyển chiến lược từ "thu hút vốn theo chiều rộng" sang "kiến tạo hệ sinh thái và phát triển theo chiều sâu". Dưới góc độ của một tập đoàn đa quốc gia đã gắn bó với Việt Nam hơn 3 thập kỷ thì tinh thần "phát triển chiều sâu" đang triển khai như thế nào trong chiến lược mở rộng tại Việt Nam của tập đoàn?

Tổng Giám đốc Tetra Pak Việt Nam Nguyễn Thanh Giang: Nghị quyết 10-NQ/TW phản ánh rất rõ định hướng mà Tetra Pak đã theo đuổi tại Việt Nam trong nhiều năm qua. Chúng tôi tin rằng giá trị của FDI ngày nay không chỉ nằm ở quy mô vốn đầu tư, mà quan trọng hơn là khả năng chuyển giao công nghệ, phát triển năng lực nội địa và cùng xây dựng một hệ sinh thái sản xuất bền vững.

Với hơn 30 năm hiện diện tại Việt Nam, chiến lược phát triển của Tetra Pak luôn hướng tới đầu tư theo chiều sâu trên ba phương diện.

Thứ nhất, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực sản xuất của ngành thực phẩm - đồ uống. Chúng tôi không chỉ cung cấp thiết bị hay bao bì, mà đồng hành cùng nhà sản xuất Việt Nam thông qua các giải pháp tương thích đồng bộ từ chế biến, đóng gói đến tự động hóa và số hóa vận hành và bảo trì, bảo dưỡng. Qua đó, các doanh nghiệp có thể nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng truy xuất và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường trong nước cũng như quốc tế.

Thứ hai, xây dựng năng lực sản xuất hiện đại ngay tại Việt Nam. Việc đầu tư 217 triệu Euro vào nhà máy sản xuất bao bì tiệt trùng tại TP.HCM chính là nền tảng để chúng tôi đưa công nghệ sản xuất tiên tiến từ Thụy Điển, các tiêu chuẩn chất lượng toàn cầu và năng lực vận hành hiện đại vào Việt Nam. Nhà máy đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các giải pháp bao bì cho thị trường trong nước và khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, đồng thời tạo môi trường để phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy chuyển giao kiến thức và thực hành sản xuất tiên tiến cho chuỗi cung ứng địa phương.

Thứ ba, thúc đẩy phát triển bền vững trong toàn bộ chuỗi giá trị. Chúng tôi tập trung tạo ra giá trị kinh tế song hành với giá trị môi trường thông qua các giải pháp giúp doanh nghiệp giảm chi phí vận hành, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm phát thải. Ví dụ, các giải pháp bền vững cho nhà máy (Factory Sustainable Solutions) hỗ trợ tối ưu hóa năng lượng, nước và hóa chất trên toàn nhà máy. Một số giải pháp bơm nhiệt (heat pump) trong danh mục giải pháp này có thể giúp giảm tiêu thụ năng lượng tới 77% và giảm phát thải CO₂ tới 670 tấn/năm trong các điều kiện ứng dụng cụ thể. Song song đó, Tetra Pak® Factory OS™ giúp doanh nghiệp khai thác dữ liệu và thông tin theo thời gian thực để nâng cao hiệu quả sản xuất. Theo nghiên cứu của Tetra Pak, các nhà máy có mức độ tự động hóa cao có thể giúp doanh nghiệp đạt hiệu quả vận hành thiết bị (OEE) cao hơn 20%, giảm 45% lãng phí sản phẩm và giảm 20% số lần dừng dây chuyền đóng gói so với các nhà máy ít tự động hóa hơn.

Nhà máy sản xuất bao bì giấy tiệt trùng của Tetra Pak tại TP.HCM hiện sử dụng điện tái tạo, đồng thời liên tục triển khai các sáng kiến nâng cao hiệu quả vận hành và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn thông qua thu gom, tái chế vỏ hộp giấy đã qua sử dụng.

Những nỗ lực này cũng nằm trong cam kết khí hậu dài hạn của Tetra Pak, với mục tiêu đạt phát thải ròng bằng không trong hoạt động của mình vào năm 2030 và hướng tới phát thải ròng bằng không trên toàn bộ chuỗi giá trị vào năm 2050.

Việt Nam là một mắt xích chiến lược trong mạng lưới sản xuất và đổi mới sáng tạo của Tetra Pak tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Vì vậy, khi nói đến "phát triển theo chiều sâu", chúng tôi không chỉ đầu tư vào nhà máy hay công nghệ, mà còn đầu tư vào con người, năng lực địa phương và khả năng phát triển bền vững của toàn ngành thực phẩm - đồ uống Việt Nam trong dài hạn.

Tetra Pak: Nghị quyết 10 mở không gian hợp tác mới giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt- Ảnh 2.

Tổng Giám đốc Tetra Pak Việt Nam Nguyễn Thanh Giang: Chúng tôi luôn chú trọng chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và các thực hành tốt nhất từ mạng lưới toàn cầu của Tetra Pak với các đối tác tại Việt Nam.

Nghị quyết 10 đặt trọng tâm vào việc tăng cường liên kết giữa khối FDI và khối doanh nghiệp nội địa để "cùng làm, cùng phát triển". Tetra Pak đã và đang xây dựng cơ chế chia sẻ, hỗ trợ các đối tác Việt Nam ra sao về năng lực quản trị, chuẩn hóa công nghệ vô trùng và các tiêu chuẩn phát triển bền vững?

Tổng Giám đốc Tetra Pak Việt Nam Nguyễn Thanh Giang: Sự phát triển bền vững của ngành thực phẩm – đồ uống chỉ có thể đạt được khi các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị cùng nâng cao năng lực và tăng cường sức cạnh tranh. Vì vậy, bên cạnh việc cung cấp các giải pháp tương thích đồng bộ từ chế biến và đóng gói đến bao bì thực phẩm, chúng tôi luôn chú trọng chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và các thực hành tốt nhất từ mạng lưới toàn cầu của Tetra Pak với các đối tác tại Việt Nam.

Trong nhiều năm qua, chúng tôi đã đồng hành cùng các doanh nghiệp thông qua các chương trình đào tạo, tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực quản trị, quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm và tối ưu hiệu quả vận hành theo các tiêu chuẩn quốc tế.

Một ví dụ là Tetra Pak® Factory OS™, hệ sinh thái tự động hóa và số hóa giúp kết nối máy móc, quy trình, dữ liệu và con người trong toàn bộ nhà máy. Giải pháp này hỗ trợ doanh nghiệp tăng cường khả năng truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng và đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu, từ đó nâng cao hiệu quả vận hành và từng bước thúc đẩy chuyển đổi số trong sản xuất. Tại nhà máy sản xuất bao bì của Tetra Pak tại TP. HCM, chúng tôi cũng đang áp dụng nhiều thực hành sản xuất thông minh, qua đó chia sẻ kinh nghiệm và các mô hình vận hành tiên tiến với khách hàng và đối tác tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, chúng tôi hỗ trợ các đối tác áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến về công nghệ chế biến và đóng gói tiệt trùng. Tetra Pak là một trong những doanh nghiệp tiên phong đưa công nghệ tiệt trùng UHT kết hợp đóng gói vô trùng vào ngành thực phẩm tại Việt Nam, góp phần kéo dài thời hạn sử dụng sản phẩm lên tới 12 tháng mà không cần chất bảo quản hoặc làm lạnh. Điều này giúp giảm lãng phí thực phẩm, mở rộng phạm vi tiếp cận của thực phẩm an toàn và hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa chuỗi cung ứng. Đồng thời chúng tôi cũng chia sẻ các giải pháp giúp tối ưu sử dụng năng lượng, giảm thất thoát nguyên liệu và nâng cao hiệu quả tài nguyên trong toàn bộ chuỗi giá trị.

Chúng tôi tin rằng việc chia sẻ công nghệ, kinh nghiệm và các thực hành tốt nhất không chỉ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam mà còn hiện thực hóa tinh thần "cùng làm, cùng phát triển" mà Nghị quyết 10 đang hướng tới.

Tetra Pak: Nghị quyết 10 mở không gian hợp tác mới giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt- Ảnh 3.

Tetra Pak là một trong những doanh nghiệp tiên phong đưa công nghệ tiệt trùng UHT kết hợp đóng gói vô trùng vào ngành thực phẩm tại Việt Nam

Ý nghĩa và những đóng góp về kinh tế - xã hội của một doanh nghiệp FDI không chỉ dừng lại ở quy mô vốn mà nằm ở tác động thực tế tới hệ sinh thái xung quanh. Bà có thể chia sẻ một câu chuyện thực tiễn hoặc dự án cụ thể mà Tetra Pak đã phối hợp cùng các nhà cung ứng hoặc đối tác nội địa mang lại kết quả vượt trội, thể hiện rõ tinh thần hợp tác cùng có lợi?

Tổng Giám đốc Tetra Pak Việt Nam Nguyễn Thanh Giang: Một ví dụ điển hình là các chương trình thúc đẩy thu gom và tái chế vỏ hộp giấy sau sử dụng mà Tetra Pak triển khai cùng các khách hàng và đối tác trong nước. Chúng tôi đã phối hợp với một số doanh nghiệp thực phẩm – đồ uống lớn để mở rộng mạng lưới điểm thu gom tại hệ thống cửa hàng trên toàn quốc, giúp người tiêu dùng dễ dàng tham gia phân loại và đưa vỏ hộp giấy đã qua sử dụng trở lại chuỗi tái chế.

Điểm nhấn là sáng kiến này mang lại lợi ích cho nhiều bên cùng lúc. Khách hàng của chúng tôi không chỉ thúc đẩy các hoạt động phát triển bền vững mà còn góp phần xây dựng nền tảng hỗ trợ việc thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR). Các đơn vị thu gom và tái chế có thêm nguồn nguyên liệu đầu vào để mở rộng hoạt động; trong khi cộng đồng được nâng cao nhận thức về phân loại rác tại nguồn và kinh tế tuần hoàn. Đây cũng là một ví dụ về cách doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp trong nước và cơ quan quản lý có thể cùng hợp tác để xây dựng hệ thống thu gom và tái chế hiệu quả hơn cho Việt Nam.

Tetra Pak đóng vai trò kết nối các bên trong chuỗi giá trị, từ doanh nghiệp sản xuất, hệ thống bán lẻ, đơn vị thu gom, nhà tái chế đến các tổ chức cộng đồng. Chúng tôi tin rằng những mô hình hợp tác như vậy là minh chứng rõ nét cho việc doanh nghiệp FDI có thể tạo ra giá trị vượt ra ngoài vốn đầu tư, thông qua việc chia sẻ kinh nghiệm, xây dựng năng lực và hỗ trợ sự phát triển bền vững của toàn bộ hệ sinh thái.

Tetra Pak: Nghị quyết 10 mở không gian hợp tác mới giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt- Ảnh 4.

Tetra Pak tiếp tục thiết kế bao bì theo định hướng tuần hoàn, từng bước tăng tỷ lệ giấy trong bao bì.

Một trong những điểm trọng tâm của phát triển bền vững trong Nghị quyết 10 là gắn liền tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường. Tetra Pak đánh giá thế nào về sự sẵn sàng của chuỗi cung ứng ngành F&B Việt Nam trước các quy định EPR (Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất), và tập đoàn đang hỗ trợ các đối tác ra sao để đáp ứng các tiêu chuẩn này?

Tổng Giám đốc Tetra Pak Việt Nam Nguyễn Thanh Giang: Chúng tôi đánh giá ngành F&B Việt Nam đang có những bước tiến tích cực trong việc chuẩn bị cho các yêu cầu của EPR. Nhiều doanh nghiệp đã chủ động tìm hiểu nghĩa vụ tuân thủ, đưa các mục tiêu tuần hoàn vào chiến lược phát triển bền vững và tham gia các sáng kiến hợp tác trong toàn chuỗi giá trị. Tuy nhiên, để EPR phát huy hiệu quả trên quy mô lớn, Việt Nam vẫn cần tiếp tục tăng cường năng lực thu gom, phân loại tại nguồn, mở rộng công suất tái chế và nâng cao nhận thức của người tiêu dùng.

Là thành viên sáng lập PRO Vietnam, chúng tôi tin rằng EPR không chỉ là một yêu cầu tuân thủ mà còn là cơ hội để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và xây dựng nền kinh tế tuần hoàn cho ngành thực phẩm – đồ uống. Tetra Pak đang phối hợp với các cơ quan quản lý, hiệp hội ngành hàng, đơn vị thu gom, tái chế và nhà sản xuất để phát triển các giải pháp mang tính hệ thống cho toàn bộ chuỗi giá trị.

Đối với các đối tác, chúng tôi hỗ trợ theo nhiều hướng. Thứ nhất, chia sẻ kiến thức và hướng dẫn thực tiễn nhằm giúp khách hàng hiểu rõ các yêu cầu EPR, cách xây dựng lộ trình tuân thủ và triển khai các chương trình thu gom, tái chế phù hợp. Thứ hai, kết nối khách hàng với hệ sinh thái thu gom và tái chế mà Tetra Pak cùng các đối tác đang phát triển, đồng thời hỗ trợ ghi nhận và chia sẻ khối lượng bao bì được thu gom, tái chế để phục vụ các yêu cầu EPR. Thứ ba, tiếp tục đầu tư và thúc đẩy mở rộng năng lực tái chế tại Việt Nam thông qua hợp tác với các nhà tái chế và các bên liên quan trong chuỗi giá trị.

Song song với đó, chúng tôi tiếp tục thiết kế bao bì theo định hướng tuần hoàn, từng bước tăng tỷ lệ giấy trong bao bì. Chúng tôi tin rằng chỉ khi toàn bộ chuỗi giá trị cùng tham gia thì EPR mới có thể tạo ra những tác động bền vững, lâu dài cho cả môi trường lẫn ngành F&B Việt Nam.

Để tinh thần của Nghị quyết 10 thực sự trở thành động lực thúc đẩy mối liên kết FDI - DN Việt đi vào chiều sâu, từ kinh nghiệm thực tiễn của Tetra Pak, tập đoàn có đề xuất hay kỳ vọng gì về cơ chế chính sách từ phía Chính phủ và các bộ, ngành trong thời gian tới?

Tổng Giám đốc Tetra Pak Việt Nam Nguyễn Thanh Giang: Từ góc độ của Tetra Pak, chúng tôi đánh giá rất cao những nỗ lực của Chính phủ trong việc cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước. Để tinh thần của Nghị quyết 10 đi vào chiều sâu hơn nữa, chúng tôi cho rằng có ba lĩnh vực ưu tiên cần được tiếp tục thúc đẩy:

Một là đổi mới sáng tạo và chuyển đổi công nghệ trong ngành thực phẩm – đồ uống. Các chính sách khuyến khích đầu tư vào tự động hóa, số hóa, sản xuất thông minh và các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước hợp tác sâu hơn trong chuỗi giá trị.

Hai là hoàn thiện hạ tầng và cơ chế hỗ trợ kinh tế tuần hoàn, đặc biệt trong lĩnh vực thu gom và tái chế. Các cơ chế hỗ trợ thu gom, phân loại và tái chế sau tiêu dùng sẽ tiếp tục được tăng cường, qua đó tạo điều kiện để các doanh nghiệp thực hiện hiệu quả trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) và thúc đẩy sự tham gia của nhiều thành phần trong chuỗi giá trị.

Ba là tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính để tạo môi trường đầu tư ổn định và minh bạch. Một khung chính sách minh bạch, ổn định và nhất quán sẽ giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư vào công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và mở rộng hợp tác với các đối tác trong nước.

Những điều kiện này sẽ giúp doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam hợp tác sâu hơn, cùng chia sẻ công nghệ, kinh nghiệm và các thực hành tốt nhất, qua đó nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của toàn bộ ngành thực phẩm – đồ uống Việt Nam.

Minh Thi (thực hiện)