TỔNG THUẬT: Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế FDI
(Chinhphu.vn) - Sáng 30/6, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, dự và chỉ đạo Hội nghị.
Cùng dự Hội nghị có các đồng chí: Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ; Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội; Nguyễn Sinh Hùng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội; Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham dự Hội nghị tại điểm cầu Trung ương - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Tham dự Hội nghị tại điểm cầu Trung ương và điểm cầu tại các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị; Ủy viên Ban Bí thư; Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng; các đồng chí Ủy viên Quân ủy Trung ương; Đảng ủy Công an Trung ương; Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương; Đảng ủy Chính phủ; Đảng ủy Quốc hội; Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương; các đồng chí lãnh đạo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; lãnh đạo Hiệp hội Doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam; đại diện lãnh đạo một số tập đoàn, doanh nghiệp FDI và tập đoàn, doanh nghiệp của nhà nước, tư nhân; các đồng chí Bí thư, Phó Bí thư; ủy viên Ban Thường vụ, ủy viên Ban Chấp hành đảng bộ các tỉnh ủy, thành ủy; lãnh đạo các ban, sở, ngành, tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh; các đồng chí ủy viên ban chấp hành đảng bộ cấp xã; ủy viên ủy ban kiểm tra đảng ủy cấp xã; lãnh đạo các phòng, ban, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp cấp xã.
Hội nghị còn được kết nối với gần 35.000 điểm cầu ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã, cơ quan, đơn vị, quân khu, quân chủng, quân đoàn trên toàn quốc; với gần 2,1 triệu đại biểu tham dự Hội nghị tại các điểm cầu. Đồng thời, được truyền hình, phát thanh trực tiếp và phát sóng trên các nền tảng số và 34/34 tỉnh, thành phố tiếp sóng phục vụ cán bộ và nhân dân theo dõi.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Mở đầu Hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, nhằm thống nhất nhận thức và định hướng tổ chức thực hiện trong toàn hệ thống chính trị.
Tại Hội nghị, đại diện lãnh đạo các địa phương và đại diện các doanh nghiệp cũng đã trình bày nhiều tham luận về những khía cạnh liên quan.
Đồng chí Nguyễn Văn Được, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh tham luận nội dung "Đẩy mạnh triển khai Trung tâm tài chính quốc tế, tạo không gian phát triển mới để thu hút dòng vốn chất lượng cao, thế hệ mới".
Theo Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 10-NQ/TW có ý nghĩa chiến lược đối với giai đoạn phát triển mới của đất nước, thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ của Đảng về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; đã chuyển dịch căn bản từ tư duy "thu hút vốn thuần túy" sang "nâng cao chất lượng, hiệu quả, lấy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia làm thước đo".
Là địa bàn trọng điểm về thu hút FDI, Thành phố Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc trách nhiệm tiên phong trong hiện thực hóa Nghị quyết của Bộ Chính trị. Tính đến nay, Thành phố Hồ Chí Minh có 20.259 dự án FDI, với tổng vốn gần 142 tỷ USD từ 152 quốc gia, vùng lãnh thổ và trong nửa đầu năm 2026, Thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút thành công hơn 6,8 tỷ USD vốn FDI, đạt 62% kế hoạch năm. Khu vực FDI chiếm khoảng 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và hơn 50% kim ngạch xuất khẩu; và là động lực quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất lao động và hội nhập quốc tế của Thành phố.
Tuy nhiên, những dư địa phát triển dựa trên thâm dụng lao động, đất đai và ưu đãi thuế truyền thống đã chạm trần. Các quốc gia ngày càng chuyển sang cạnh tranh về thể chế, chất lượng môi trường kinh doanh và năng lực đổi mới sáng tạo, nếu không tạo ra một không gian phát triển mới, Thành phố sẽ rất khó đón được làn sóng đầu tư chiến lược của giai đoạn tới.
Từ thực tiễn đó, lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất ba vấn đề liên quan đến việc triển khai Trung tâm tài chính quốc tế để thu hút dòng vốn chất lượng cao và thế hệ mới.
Thứ nhất, chuyển mạnh từ tư duy "thu hút dự án" sang "kiến tạo hệ sinh thái" để thu hút dòng vốn chất lượng cao
Thế giới đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc sâu sắc chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và chuỗi tài chính toàn cầu. Theo các tổ chức quốc tế: dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu những năm gần đây có xu hướng suy giảm về quy mô nhưng gia tăng mạnh tính chọn lọc; vốn đầu tư ngày càng tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao, tài chính xanh, kinh tế số, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng sạch và đổi mới sáng tạo.
FDI thế hệ mới không còn tìm kiếm nơi có chi phí thấp nhất, mà lựa chọn nơi có thể chế minh bạch, thị trường vốn phát triển, nguồn nhân lực chất lượng cao, khả năng bảo vệ tài sản, môi trường đổi mới sáng tạo và năng lực kết nối với mạng lưới tài chính quốc tế.
Cạnh tranh thu hút FDI trong giai đoạn mới không còn là cạnh tranh giữa các dự án, mà là cạnh tranh giữa các hệ sinh thái phát triển; không chỉ là ưu đãi đầu tư, mà trước hết là năng lực kiến tạo thể chế. Đó cũng chính là tinh thần cốt lõi mà Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra và cũng là yêu cầu khách quan đối với Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Thứ hai, phát triển Trung tâm tài chính quốc tế chính là giải pháp chiến lược để hiện thực hóa phương thức thu hút FDI mới của Việt Nam
Trong giai đoạn 2026-2035, Việt Nam cần khoảng 1.500-1.600 tỷ USD vốn đầu tư toàn xã hội để thực hiện các mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, trong khi nguồn lực ngân sách chỉ có thể đáp ứng khoảng 20% nhu cầu. Hệ thống tài chính hiện nay vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng, chiếm khoảng 57% tổng nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế; quy mô các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, quản lý tài sản và các định chế đầu tư dài hạn còn khiêm tốn so với nhiều quốc gia trong khu vực (chỉ chiếm khoảng 6% GDP).
Riêng Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2026 cần huy động trên 1 triệu tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội, trong đó khoảng 7,8 tỷ USD từ khu vực nước ngoài để bảo đảm mục tiêu tăng trưởng hai con số. Điều đó đặt ra yêu cầu phải hình thành một thiết chế tài chính hiện đại có khả năng huy động, phân bổ và dẫn dắt các dòng vốn quốc tế.
Do đó, thông qua Trung tâm tài chính quốc tế sẽ giải quyết 03 vấn đề:
(1) Là nơi đặt đại bản doanh của các quỹ đầu tư toàn cầu, ngân hàng đầu tư, các công ty quản lý tài sản và các trung tâm tài chính công nghệ. Đây chính là những chủ thể có khả năng điều phối, dẫn dắt dòng vốn dài hạn vào các hạ tầng chiến lược, năng lượng tái tạo và công nghệ cao của Việt Nam.
(2) Tiếp nhận "phần giá trị vô hình" của FDI: Đi cùng với dòng vốn là công nghệ tài chính, năng lực quản trị tiên tiến, chuẩn mực minh bạch quốc tế, hệ thống dữ liệu, mạng lưới chuyên gia và khả năng kết nối với các chuỗi giá trị toàn cầu. Đây mới là nguồn lực có ý nghĩa quyết định để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn.
(3) IFC sẽ mở ra cơ hội mới cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận trực tiếp các nguồn vốn toàn cầu với chi phí hợp lý, đa dạng hóa các công cụ huy động vốn, thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp quy mô khu vực và từng bước đưa doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Các đại biểu tham dự tại điểm cầu Trung tâm - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Thứ ba, Thành phố Hồ Chí Minh cam kết tiên phong triển khai Trung tâm tài chính quốc tế với tinh thần phụng sự lợi ích quốc gia và phát triển vì cả nước
Thành phố nhận thức sâu sắc rằng, việc Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ giao Thành phố xây dựng và tổ chức triển khai Trung tâm tài chính quốc tế vừa là niềm tin, vừa là trách nhiệm rất lớn.
Thành phố Hồ Chí Minh xác định đây không phải là dự án của riêng Thành phố, mà là một thiết chế tài chính quốc gia, phục vụ sự phát triển của cả nền kinh tế, là cầu nối để các địa phương, các doanh nghiệp Việt Nam và các ngành kinh tế chiến lược tiếp cận hiệu quả hơn với các dòng vốn quốc tế.
Thành phố sẽ tập trung xây dựng môi trường đầu tư đạt chuẩn quốc tế; đẩy mạnh cải cách thể chế, cải cách hành chính, phát triển hạ tầng số, nguồn nhân lực chất lượng cao; chủ động phối hợp với các bộ, ngành để triển khai các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, bảo đảm Trung tâm tài chính quốc tế vận hành theo các chuẩn mực quốc tế nhưng phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam.
Đồng thời, Thành phố rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo của Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành để sớm hoàn thiện các cơ chế vượt trội, đủ mạnh, đủ linh hoạt và đủ sức cạnh tranh với các trung tâm tài chính trong khu vực.
"Nghị quyết số 10-NQ/TW đã mở ra một tư duy mới. Chúng tôi tin tưởng rằng, với sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, sự đồng hành của Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành, việc xây dựng thành công Trung tâm tài chính quốc tế sẽ không chỉ tạo ra một cực tăng trưởng mới cho Thành phố Hồ Chí Minh mà còn mở rộng không gian phát triển của cả nền kinh tế, nâng tầm vị thế Việt Nam trên bản đồ tài chính và đầu tư quốc tế, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững và thịnh vượng trong kỷ nguyên mới", Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Được nhấn mạnh.

Đồng chí Vũ Đại Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, trình bày tham luận về "Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tạo nền tảng thu hút đầu tư vào lĩnh vực khoa học công nghệ, nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số" - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Tham luận nội dung "Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tạo nền tảng thu hút đầu tư vào lĩnh vực khoa học công nghệ, nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số", đồng chí Vũ Đại Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, nhấn mạnh:
Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08 tháng 6 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được ban hành trong thời điểm rất quan trọng. Dòng vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới đang chuyển dịch mạnh vào các lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các ngành công nghiệp chiến lược. Các tập đoàn toàn cầu ngày càng coi chất lượng nguồn nhân lực, năng lực nghiên cứu, khả năng đổi mới sáng tạo và mức độ hoàn thiện của hệ sinh thái công nghệ là những tiêu chí quan trọng hàng đầu khi lựa chọn địa điểm đầu tư.
Nghị quyết số 10 thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; chuyển từ mục tiêu thu hút vốn đơn thuần sang thu hút có chọn lọc, lấy chất lượng, công nghệ, đổi mới sáng tạo, quản trị hiện đại và hiệu quả cao lan tỏa làm tiêu chí chủ yếu; qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới.
Đối với Hà Nội, việc quán triệt và triển khai Nghị quyết số 10 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, hành chính quốc gia; đồng thời là trung tâm lớn về kinh tế, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hà Nội xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của Thành phố mà còn góp phần xây dựng nền tảng nhân lực, tri thức và đổi mới sáng tạo cho vùng Thủ đô và cả nước; qua đó khẳng định vai trò tiên phong của Thủ đô trong triển khai các chủ trương lớn của Đảng về khoa học, công nghệ và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Lợi thế lớn nhất của Hà Nội không chỉ là quy mô thị trường, vị trí địa kinh tế hay hệ thống kết cấu hạ tầng đang được đầu tư mạnh mẽ, mà là khả năng hội tụ đầy đủ các cấu phần của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo: từ đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, thử nghiệm công nghệ, phát triển doanh nghiệp đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Thời gian qua, Thành phố đã chủ động triển khai các chủ trương của Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW, Luật Thủ đô và các định hướng lớn trong Quy hoạch Thủ đô. Hà Nội đã tập trung hoàn thiện cơ chế chính sách, đẩy mạnh chuyển đổi số, cải thiện môi trường đầu tư, phát triển hạ tầng đô thị, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số, từng bước hình thành các không gian phát triển mới cho khoa học công nghệ, công nghiệp công nghệ cao và kinh tế số.
Đặc biệt, Hội nghị công bố Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm và xúc tiến đầu tư năm 2026 được Thành phố tổ chức ngày 29 tháng 6 đã cho thấy niềm tin, sự quan tâm và kỳ vọng lớn của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư trong nước và quốc tế đối với Hà Nội. Sự tham gia, trao đổi và cam kết đồng hành của nhiều tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ lớn như NVIDIA, Samsung, FPT, CMC và nhiều đối tác trong, ngoài nước là minh chứng sinh động cho thấy Hà Nội đang có cơ hội rất lớn để trở thành điểm đến của dòng vốn đầu tư chất lượng cao.
Qua tiếp xúc, trao đổi với các nhà đầu tư, Thành phố nhận thấy điều các doanh nghiệp công nghệ quan tâm không chỉ là hạ tầng, mặt bằng hay chính sách ưu đãi, mà là khả năng tiếp cận nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường nghiên cứu phát triển, năng lực kết nối với trường đại học, viện nghiên cứu và khả năng triển khai các mô hình mới. Đồng thời, các nhà đầu tư cũng dành quan tâm về khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu phát triển và chuyển đổi số. Liên kết giữa Nhà nước, nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp đã có chuyển biến nhưng chưa trở thành cơ chế vận hành thường xuyên, thực chất. Hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh và đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong một số lĩnh vực chiến lược chưa tương xứng với tiềm năng của Thủ đô.

Đại diện các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham dự Hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Từ thực tiễn đó, trong thời gian tới, TP. Hà Nội sẽ tập trung một số nhóm giải pháp trọng tâm nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Thành phố:
Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi trong thu hút FDI thế hệ mới.
Quan điểm của Hà Nội là chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao không chỉ dừng ở thu hút và đãi ngộ, mà phải tạo dựng môi trường để người tài nghiên cứu, sáng tạo, hợp tác quốc tế và phát triển lâu dài. Thành phố sẽ tăng cường cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học công nghệ, giao nhiệm vụ cho các nhóm nghiên cứu mạnh, hỗ trợ chuyên gia tham gia giải quyết các vấn đề lớn của Thủ đô.
Thứ hai, đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu của doanh nghiệp FDI và các ngành công nghệ chiến lược.
Hà Nội sẽ thúc đẩy mạnh hơn mô hình liên kết thực chất giữa Nhà nước, nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; chuyển từ đào tạo theo khả năng cung ứng của cơ sở đào tạo sang đào tạo theo nhu cầu của thị trường, của doanh nghiệp và của các ngành công nghệ tương lai.
Thành phố khuyến khích doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp công nghệ và các tập đoàn lớn tham gia xây dựng chương trình đào tạo, đặt hàng đào tạo, tổ chức thực tập, đào tạo lại, bồi dưỡng kỹ năng và tiếp nhận nhân lực sau đào tạo.
Thứ ba, phát triển hệ sinh thái nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo theo mô hình mạng lưới mở, tạo nền tảng thu hút các trung tâm R&D và các dự án FDI công nghệ cao.
Hà Nội xác định nguồn nhân lực chất lượng cao chỉ có thể phát triển bền vững khi được đặt trong một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo năng động và có khả năng kết nối quốc tế.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Hà Nội sẽ phát huy hiệu quả các cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô, Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quy hoạch Thủ đô, từng bước hình thành mạng lưới kết nối giữa các trường đại học, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm, doanh nghiệp công nghệ và các trung tâm đổi mới sáng tạo; tạo nền tảng phát triển hệ sinh thái nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo mang tầm quốc gia, từng bước vươn ra khu vực.
Thành phố sẽ tập trung xây dựng và phát triển các trung tâm nghiên cứu phát triển, phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm đổi mới sáng tạo, không gian thử nghiệm công nghệ, trung tâm dữ liệu và hạ tầng số hiện đại; đồng thời hình thành các cơ chế liên kết chặt chẽ giữa trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước.
Hà Nội sẽ khuyến khích các tập đoàn công nghệ đầu tư cho nghiên cứu phát triển, cùng xây dựng phòng thí nghiệm, đào tạo nhân lực và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; đồng thời phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và doanh nghiệp khoa học công nghệ.

Các đại biểu tham dự Hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Thứ tư, phát triển mạnh nguồn nhân lực số, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và phát triển kinh tế số.
Hà Nội sẽ tiếp tục triển khai đồng bộ các chương trình phát triển kỹ năng số cho người lao động, nâng cao năng lực ứng dụng dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, an toàn thông tin và quản trị số trong khu vực công cũng như khu vực doanh nghiệp. Thành phố sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong giáo dục, đào tạo, quản trị nhân lực và cung cấp dịch vụ công; tạo điều kiện để người lao động có cơ hội học tập suốt đời, cập nhật tri thức và thích ứng nhanh với yêu cầu của nền kinh tế số.
Thứ năm, xây dựng Hà Nội trở thành nơi hội tụ nhân tài, công nghệ và đổi mới sáng tạo của khu vực.
Thành phố sẽ triển khai hiệu quả Luật Thủ đô, cụ thể hóa Quy hoạch Thủ đô và các cơ chế đặc thù để hình thành những không gian phát triển mới dành cho giáo dục đại học, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, công nghệ cao và kinh tế số; phát triển hệ thống hạ tầng đồng bộ, các dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa chất lượng cao và môi trường sống an toàn, hiện đại, có khả năng kết nối quốc tế.
Mục tiêu của Hà Nội là xây dựng một môi trường phát triển mà ở đó các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, chuyên gia và nhà đầu tư có thể cùng hợp tác, sáng tạo và phát triển lâu dài; qua đó hình thành các cực tăng trưởng mới dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Hà Nội nhận thức sâu sắc rằng, trong kỷ nguyên phát triển mới, nguồn nhân lực chất lượng cao chính là "hạ tầng mềm" quan trọng nhất của mỗi quốc gia và mỗi địa phương. Với vị thế và trách nhiệm của Thủ đô, Hà Nội cam kết tiếp tục tiên phong triển khai hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm hội tụ nhân tài, nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo của cả nước, đóng góp thiết thực vào mục tiêu đưa Việt Nam trở thành điểm đến của các dòng vốn đầu tư chất lượng cao và các ngành công nghiệp chiến lược trong kỷ nguyên phát triển mới.

Đồng chí Hồ Kỳ Minh, Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Đà Nẵng tham luận nội dung “Giải pháp thu hút dòng vốn chất lượng cao gắn với phát triển khu thương mại tự do tạo động lực tăng trưởng vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung” - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Đại diện lãnh đạo thành phố Đà Nẵng, đồng chí Hồ Kỳ Minh, Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Đà Nẵng trình bày tham luận về "Giải pháp thu hút dòng vốn chất lượng cao gắn với phát triển khu thương mại tự do tạo động lực tăng trưởng vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung".
Đồng chí Hồ Kỳ Minh cho biết: Thành phố Đà Nẵng sau hợp nhất có quy mô rộng, lớn với nhiều dư địa phát triển và cơ chế ưu đãi phát triển. Thành phố có diện tích khoảng 11.860 km², dân số trên 3 triệu người; sở hữu hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, bao gồm hai sân bay quốc tế là Sân bay quốc tế Đà Nẵng và Sân bay quốc tế Chu Lai phục vụ cả hành khách và vận tải hàng hóa; hệ thống cảng biển nước sâu với Cảng Tiên Sa, Cảng Liên Chiểu đang được đầu tư trở thành cảng cửa ngõ quốc tế và Cảng Chu Lai, hình thành chuỗi logistics liên hoàn gắn với cao tốc Bắc – Nam, Hành lang kinh tế Đông – Tây và các tuyến hàng hải quốc tế. Thành phố đồng thời sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa và du lịch đặc sắc với 03 Di sản Văn hóa Thế giới được UNESCO ghi danh gồm Đô thị cổ Hội An, Khu đền tháp Mỹ Sơn và Ma Nhai Ngũ Hành Sơn, cùng hệ sinh thái đa dạng với bán đảo Sơn Trà, Cù lao Chàm, hệ thống bãi biển đẹp và vùng núi, rừng rộng lớn. Với vị trí chiến lược ở trung tâm miền Trung, quy mô mới sau hợp nhất cùng hệ thống đường cao tốc, quốc lộ kết hợp với hệ thống sân bay, cảng biển và logistics ngày càng hoàn thiện, Đà Nẵng hội tụ đầy đủ các điều kiện để trở thành cực tăng trưởng quốc gia, trung tâm tài chính quốc tế, trung tâm đổi mới sáng tạo, logistics, thương mại và dịch vụ chất lượng cao của khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Đà Nẵng đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút dòng vốn chất lượng cao gắn với phát triển Khu thương mại tự do, góp phần tạo động lực tăng trưởng mới cho vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung.
Thứ nhất, phát triển Khu thương mại tự do theo mô hình thế hệ mới để thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao.
Khu Thương mại tự do Đà Nẵng là mô hình khu thương mại tự do đầu tiên được thí điểm tại Việt Nam theo Quyết định số 1142/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; gồm 07 khu chức năng, quy mô khoảng 1.881 ha, tập trung trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (cũ); được quy hoạch gắn với Cảng Liên Chiểu, Khu công nghệ cao và Trung tâm tài chính quốc tế. Đây được kỳ vọng sẽ trở thành động lực tăng trưởng mới của thành phố và là trung tâm logistics, thương mại quốc tế và đổi mới sáng tạo của khu vực.
Khu Thương mại tự do được định hướng phát triển theo ba nhóm chức năng chính gồm: khu sản xuất và logistics; khu thương mại - dịch vụ; khu công nghiệp công nghệ số, nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo. Mô hình này hướng tới thu hút các ngành công nghệ cao, bán dẫn, logistics quốc tế, thương mại điện tử xuyên biên giới, tài chính, fintech, trung tâm dữ liệu, trung chuyển hàng hóa và dịch vụ giá trị gia tăng. Đến nay, thành phố đã cấp quyết định chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư đối với các nhà đầu tư hạ tầng tại các vị trí số 2, 3, 4 và 5 thuộc Khu thương mại tự do Đà Nẵng. Các nhà đầu tư đang phối hợp với thành phố hoàn thiện các thủ tục cần thiết theo quy định để sớm triển khai các dự án hạ tầng và đưa Khu thương mại tự do sớm đi vào hoạt động.
Trong thời gian tới, thành phố định hướng tiếp tục nghiên cứu mở rộng không gian phát triển Khu thương mại tự do về phía Nam nhằm khai thác hiệu quả quỹ đất, tăng cường kết nối với hệ thống cảng biển Chu Lai – Kỳ Hà, sân bay Chu Lai, Khu Kinh tế mở Chu Lai và mạng lưới giao thông chiến lược. Trong giai đoạn 2026-2030, ưu tiên bổ sung 02 vị trí: Khu vực Cảng Container Liên Chiểu với quy mô khoảng 172 ha và Khu vực tiếp giáp sân bay Chu Lai quy mô khoảng 223 ha, phục vụ logistics hàng không, kho ngoại quan.
Thứ hai, chuyển mạnh từ thu hút đầu tư theo số lượng sang lựa chọn nhà đầu tư chiến lược và các ngành có giá trị gia tăng cao.
Thành phố Đà Nẵng luôn xác định khu vực đầu tư nước ngoài là một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh. Thành phố đã tập trung cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, đẩy mạnh cải cách hành chính, xúc tiến đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách đặc thù do Trung ương ban hành. Giai đoạn 2021–2025, thành phố thu hút hơn 2,07 tỷ USD vốn FDI; lũy kế đến nay có 1.133 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 10,94 tỷ USD. Riêng 6 tháng đầu năm 2026, Thành phố thu hút gần 358 triệu USD, tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước; các dự án tập trung chủ yếu vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ thông tin, thương mại và dịch vụ.
Tuy nhiên, kết quả thu hút FDI vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới; chưa thu hút được nhiều dự án quy mô lớn, có tính dẫn dắt, tạo đột phá về công nghệ và liên kết chuỗi giá trị; năng lực tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, mức độ liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp nội địa chưa cao.
Do đó, trong thời gian tới, thành phố Đà Nẵng đổi mới mạnh mẽ mô hình thu hút đầu tư theo hướng lựa chọn dòng vốn FDI chất lượng cao, lấy đổi mới sáng tạo, công nghệ cao và giá trị gia tăng làm trọng tâm, gắn với phát triển Khu thương mại tự do và Trung tâm tài chính quốc tế. Cụ thể, xây dựng danh mục dự án trọng điểm cần thu hút; ưu tiên thu hút các dự án thuộc các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghệ môi trường, năng lượng sạch, logistics thông minh, dịch vụ tài chính quốc tế và kinh tế số.
Đổi mới hình thức xúc tiến đầu tư tại các thị trường trọng điểm như Mỹ, Nhật Bản, EU… Ưu tiên các hình thức tiếp xúc, làm việc trực tiếp với các nhà đầu tư quan tâm là Tập đoàn xuyên quốc gia; nhất là các doanh nghiệp trong danh sách Fortune 500 hoặc các Tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới.
Đồng thời, việc lựa chọn nhà đầu tư không chỉ căn cứ vào quy mô vốn mà tập trung đánh giá năng lực công nghệ, năng lực quản trị, khả năng nghiên cứu phát triển, mức độ chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, sử dụng năng lượng xanh và khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại điểm cầu thành phố Đà Nẵng - Ảnh: VGP/Nhật Anh
Thứ ba, xây dựng hệ sinh thái đầu tư đồng bộ để giảm chi phí và nâng cao sức cạnh tranh của môi trường đầu tư
Thành phố Đà Nẵng tập trung phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng giao thông, logistics, hạ tầng số, năng lượng, hải quan thông minh, chính quyền số và các dịch vụ công chất lượng cao; đồng thời gắn kết chặt chẽ giữa Khu thương mại tự do với Khu công nghệ cao, Trung tâm đổi mới sáng tạo, Cảng Liên Chiểu, sân bay quốc tế và Trung tâm tài chính quốc tế.
Song song với đó, Thành phố ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp với các trường đại học, viện nghiên cứu nhằm đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghệ cao và các tập đoàn đa quốc gia.
Thứ tư, phát huy vai trò của Trung tâm tài chính quốc tế trong thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Khu thương mại tự do
Trong quá trình triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW, sự kết hợp giữa Khu thương mại tự do với Trung tâm tài chính quốc tế là lợi thế đặc biệt của Đà Nẵng trong giai đoạn tới.
Triển khai thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị; chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của các bộ, ngành trung ương, thành phố Đà Nẵng đã chỉ đạo Cơ quan điều hành Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng (VIFC-DN) lựa chọn, triển khai một số sản phẩm dịch vụ tài chính giúp khơi thông và đa dạng hoá kênh dẫn vốn vào nền kinh tế gắn với nhu cầu của thành phố như: nhu cầu vốn cho các công trình hạ tầng trọng điểm, Khu Thương mại tự do, Khu công nghệ cao. Hiện nay, Cơ quan điều hành VIFC-DN đã và đang phối hợp với các đối tác, định chế tài chính quốc tế lớn triển khai 03 nhóm sản phẩm trọng tâm, ưu tiên phát triển tại VIFC-DN, bao gồm:
(1) Phát triển hạ tầng kết nối thị trường vốn quốc tế (VIFC Connect): Nghiên cứu xây dựng cơ chế kết nối thị trường vốn quốc tế theo mô hình Bond Connect của Hong Kong (Trung Quốc) nhằm hình thành hạ tầng tài chính hiện đại phục vụ huy động vốn xuyên biên giới. Thông qua cơ chế này, các doanh nghiệp trong Khu Thương mại tự do và các địa phương có dự án trọng điểm có thể tiếp cận trực tiếp các nhà đầu tư, tổ chức quốc tế để phát hành trái phiếu và các sản phẩm tài chính khác; từng bước hình thành hệ thống giao dịch, lưu ký và thanh toán đạt chuẩn quốc tế, tạo nền tảng thu hút dòng vốn đầu tư dài hạn vào Việt Nam.
(2) Nhóm sản phẩm mã hóa tài sản thực: Đây là một xu hướng mới trên thế giới, sử dụng công nghệ chuỗi khối (blockchain) để xác thực đối với các tài sản bất động sản, dự án hạ tầng, năng lượng, hàng hóa…thành các chứng chỉ số được phát hành, lưu trữ, và chuyển giao trên nền tảng chuỗi khối nhằm huy động vốn trong và ngoài nước, đặc biệt là từ các quỹ đầu tư từ nước ngoài để đầu tư các dự án hạ tầng trọng điểm, các dự án có quy mô vốn lớn…
(3) Thu hút nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng phi ngân hàng nước ngoài (công ty tài chính, quỹ đầu tư…) nhằm cung cấp nguồn vốn phục vụ đầu tư phát triển của thành phố và các địa phương khác, phục vụ cho khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thông qua cơ chế này, các tập đoàn kinh tế tư nhân có điều kiện tiếp cận các nguồn vốn quy mô lớn để đầu tư phát triển hạ tầng chiến lược như cảng biển, sân bay, năng lượng, giao thông và logistics.
Bên cạnh 03 nhóm sản phẩm cốt lõi, Cơ quan điều hành VIFC-DN đã và đang trao đổi, làm việc cùng các công ty chứng khoán quốc tế, các định chế tài chính đáp ứng nhu cầu của thành phố Đà Nẵng trong việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương để huy động vốn phục vụ các dự án hạ tầng trọng điểm của thành phố như: tuyến đường đô thị tốc độ cao phía Đông thành phố quy mô 27.000 tỷ kết nối từ Sân bay quốc tế Đà Nẵng đến Sân bay Chu Lai; đường sắt đô thị, ưu tiên trước mắt là đoạn Đà Nẵng – Hội An quy mô 95.00 tỷ, …
Thứ năm, phát huy vai trò dẫn dắt liên kết vùng, tạo không gian phát triển chung cho khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung.
Một trong những điểm nổi bật của Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị là vượt ra khỏi tư duy phát triển dựa trên địa giới hành chính truyền thống để hướng tới tổ chức không gian phát triển theo các hệ sinh thái kinh tế liên kết; thu hút đầu tư sẽ gắn với việc hình thành các cực tăng trưởng chuyên sâu, các vùng phát triển chuyên biệt dựa trên lợi thế địa kinh tế, hạ tầng, nguồn nhân lực, khả năng kết nối chuỗi giá trị của từng khu vực.
Theo đó, thành phố Đà Nẵng chú trọng hợp tác, liên kết các địa phương trong vùng để xây dựng chuỗi giá trị và "phân vai" liên kết vùng. Đà Nẵng sẽ tập trung phát triển các chức năng trung tâm về logistics quốc tế, tài chính, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu phát triển và dịch vụ chất lượng cao; trong khi các địa phương trong vùng phát huy lợi thế về công nghiệp, sản xuất, công nghiệp hỗ trợ, năng lượng và kinh tế biển. Thông qua hệ thống cảng biển, sân bay, các tuyến cao tốc và Hành lang kinh tế Đông - Tây, Đà Nẵng sẽ đóng vai trò là cửa ngõ kết nối vùng với thị trường quốc tế, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh chung của toàn khu vực.
Việc phát triển theo mô hình liên kết vùng sẽ tạo quy mô thị trường lớn hơn, nâng cao hiệu quả sử dụng hạ tầng, hạn chế cạnh tranh bằng ưu đãi đầu tư và tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế.
Để thực hiện hiệu quả các giải pháp, mục nêu trên, thành phố Đà Nẵng đề nghị Trung ương tiếp tục quan tâm hoàn thiện khung pháp lý cho Khu thương mại tự do và Trung tâm tài chính quốc tế; bổ sung nhà máy điện LPG Hoà Ninh vào Quy hoạch điện VIII; nghiên cứu cho phép thí điểm một số cơ chế, chính sách vượt trội về đổi mới sáng tạo, tài chính số, công nghệ mới, quản trị hiện đại; tăng cường phân cấp, phân quyền trong quản lý đầu tư, đất đai, hải quan và lao động chất lượng cao; đồng thời xây dựng cơ chế điều phối phát triển vùng nhằm phát huy hiệu quả liên kết giữa các địa phương.
Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư toàn cầu ngày càng gay gắt, ưu đãi thuế hay chi phí nhân công rẻ không còn là yếu tố quyết định mà phụ thuộc vào chất lượng thể chế, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng kết nối chuỗi giá trị toàn cầu và sự phát triển đồng bộ của hệ sinh thái đầu tư. Thành phố Đà Nẵng đã xác định và quyết tâm phát triển Khu thương mại tự do gắn với Trung tâm tài chính quốc tế, đổi mới sáng tạo, phát triển đô thị đáng sống cùng với liên kết vùng là hướng đi chiến lược để thu hút dòng vốn chất lượng cao nhằm xây dựng thành phố trở thành cực tăng trưởng của miền Trung và cả nước; góp phần hiện thực hóa các mục tiêu mà Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra.

Ông Takuya Sahashi, Phó Chủ tịch Tập đoàn Mitsubishi Corporation tại Việt Nam đánh giá cao định hướng chính sách rõ ràng của Nghị quyết số 10-NQ/TW trong việc thu hút đầu tư nước ngoài chất lượng cao, thúc đẩy các ngành công nghệ cao và đổi mới sáng tạo - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Tham luận về "Vai trò của Doanh nghiệp FDI trong phát triển công nghệ cao, chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng nội địa", ông Takuya Sahashi, Phó Chủ tịch Tập đoàn Mitsubishi Corporation tại Việt Nam, đánh giá cao định hướng chính sách rõ ràng của Nghị quyết trong việc thu hút đầu tư nước ngoài chất lượng cao, thúc đẩy các ngành công nghệ cao và đổi mới sáng tạo, đồng thời tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước. Đồng thời, Phó Chủ tịch Tập đoàn Mitsubishi Corporation tại Việt Nam đồng tình với tầm nhìn cho rằng sự phát triển kinh tế của Việt Nam không nên chỉ dựa vào việc thu hút đầu tư nước ngoài mà còn phải tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu.
Thông qua quá trình tham gia này, các công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại và các tiêu chuẩn quốc tế sẽ từng bước được lan tỏa vào khu vực doanh nghiệp trong nước, tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ và nâng cao nền tảng công nghiệp nói chung.
Theo ông Takuya Sahashi, các doanh nghiệp Nhật Bản đã đóng góp vào sự phát triển công nghiệp của Việt Nam trong hơn ba thập kỷ qua. Nhật Bản đã đầu tư đáng kể vào các lĩnh vực sản xuất như thiết bị vận tải, điện tử và máy móc công nghiệp, tạo việc làm và hỗ trợ xuất khẩu. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Nhật Bản luôn chú trọng phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ và phát triển các nhà cung ứng. Nhờ vậy, tỉ lệ nội địa hóa đã không ngừng được nâng lên theo thời gian.
Để triển khai thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết số 10-NQ/TW, ông Takuya Sahashi cho rằng vẫn còn một số thách thức cần vượt qua. Đó là năng lực kỹ thuật và chất lượng của các nhà cung ứng trong nước cần tiếp tục được nâng cao. Các ngành công nghiệp thượng nguồn, bao gồm ngành vật liệu và linh kiện then chốt vẫn còn kém phát triển, dẫn đến sự phụ thuộc kéo dài vào nhập khẩu. Mặc dù đã có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận do thủ tục phức tạp hoặc chưa phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp… Việc giải quyết những vấn đề này có ý nghĩa thiết yếu trong việc tăng cường mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.
Dựa trên kinh nghiệm thực tiễn, ông Takuya Sahashi nhấn mạnh một số khuyến nghị trọng tâm, phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW. Trong đó nhấn mạnh cần sự hỗ trợ có trọng tâm đối với các doanh nghiệp trong nước có tiềm năng cao thay vì chỉ chú trọng đến số lượng; cần xác định các doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng phát triển cao và dành cho họ các chính sách hỗ trợ có trọng tâm.
Việc tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp FDI có thể giúp hình thành và phát triển các nhà cung ứng nòng cốt, có năng lực cạnh tranh.
Đồng thời tăng cường kết nối doanh nghiệp và nâng cao khả năng tiếp cận thông tin. Việc hoàn thiện các cơ chế nhằm nhận diện và giới thiệu các nhà cung ứng trong nước có năng lực là hết sức quan trọng. Mở rộng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng, các triển lãm và nền tảng kết nối doanh nghiệp thông qua sự phối hợp giữa Chính phủ và các tổ chức doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các liên kết chặt chẽ hơn.
Cùng với đó là phát triển các ngành công nghiệp thượng nguồn. Việc phát triển có chiến lược các ngành vật liệu và linh kiện là yếu tố thiết yếu nhằm gia tăng giá trị gia tăng trong nước và nâng cao khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng. Đây cũng là nền tảng quan trọng để thu hút các dòng vốn FDI chất lượng cao và công nghệ cao.
Ông Takuya Sahashi cũng khuyến nghị cần nâng cao khả năng tiếp cận các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các chương trình hỗ trợ cần được thiết kế đơn giản hơn, linh hoạt hơn và dễ tiếp cận hơn để doanh nghiệp có thể sử dụng khi cần thiết.
Cuối cùng, việc tăng cường đào tạo nghề, thúc đẩy hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp cũng như nâng cao kỹ năng thực hành là hết sức cần thiết để tăng cường năng lực tiếp nhận và hấp thụ công nghệ chuyển giao.
Việc tạo dựng mối liên kết chặt chẽ hơn giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam thông qua việc nâng cao năng suất, tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn và phát triển một cơ cấu công nghiệp có khả năng chống chịu tốt hơn và tự chủ hơn. Đồng thời, điều này cũng sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu của các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam.
"Các doanh nghiệp Nhật Bản cam kết tiếp tục đóng góp vào sự phát triển của Việt Nam thông qua đầu tư, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực. Chúng tôi mong muốn tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Việt Nam và tất cả các bên liên quan nhằm hiện thực hóa tầm nhìn được đề ra trong Nghị quyết số 10-NQ/TW", ông Takuya Sahashi phát biểu.
Tiếp tục cập nhật...