• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Căn cứ được tính tiền sử dụng đất theo Nghị quyết 254

(Chinhphu.vn) - Để xác định thửa đất chuyển mục đích sang đất ở có thuộc trường hợp được tính tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 không, cần phải xác định được đối tượng và nguồn gốc sử dụng đất.

15/07/2026 13:07

Năm 1988, bố mẹ của ông Trần Hoàng Phúc (Cần Thơ) được ông bà nội cho thửa đất diện tích 1.757 m2 và đã xây dựng nhà ở ổn định tại đây.

Đến tháng 11/1998, theo quy định tại Nghị định số 60/CP, bố mẹ ông Phúc được cấp 02 giấy chứng nhận (GCN) riêng biệt trên cùng một khu đất:

GCN thứ nhất: Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với thửa đất số 1111 (diện tích 100 m2 đất ở và nhà cấp 4).

GCN thứ hai: Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1112 (diện tích 1.657 m2 đất trồng cây lâu năm). Đáng chú ý, trên sơ đồ của thửa đất này có thể hiện vị trí của thửa 1111 và có ghi chú chữ "Thổ cư".

Đến năm 2004, bố mẹ tặng cho ông Phúc 184 m2 đất (tách ra từ thửa đất trồng cây lâu năm số 1112 nêu trên). Thửa đất mới này được UBND quận cấp GCN ngày 28/12/2004, ký hiệu thửa số 183, tờ bản đồ số 65.

Hiện nay, ông có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở đối với thửa đất số 183 này.

Ông Phúc hỏi, trường hợp của ông có thuộc đối tượng được giảm tiền chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 50/2026/NĐ-CP hay không?

Về vấn đề này, Thuế cơ sở 1 thành phố Cần Thơ có ý kiến như sau:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai:

"c) Trường hợp đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được xác định khi công nhận quyền sử dụng đất mà chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở: chuyển từ đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất hoặc do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng sang đất ở thì tính tiền sử dụng đất theo mức thu bằng: 30% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (sau đây gọi tắt là chênh lệch) đối với diện tích đất chuyển mục đích sử dụng trong hạn mức giao đất ở tại địa phương; 50% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức nhưng không quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương: 100% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức mà vượt quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương. Mức thu tiền sử dụng đất nêu trên chỉ được tính một lần cho một hộ gia đình, cá nhân (tính trên 01 thửa đất)".

Căn cứ khoản 2 Điều 21 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ quy định về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 12 Điều 13 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất):

"Điều 21. Trình tự tính, thu, nộp tiền sử dụng đất

2. Đối với hộ gia đình, cá nhân:

a) Căn cứ quyết định giao đất, quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, quyết định chuyển hình thức sử dụng đất, đơn đề nghị (văn bản) công nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân và các hồ sơ khác theo quy định của pháp luật về đất đai, Văn phòng đăng ký đất đai hoặc bộ phận một cửa liên thông hoặc cơ quan ký hợp đồng BT (trong trường hợp giao đất, cho thuê đất để thanh toán hợp đồng BT) hoặc cơ quan, người có thẩm quyền được giao nhiệm vụ lập Phiếu chuyển thông tin chuyển Phiếu chuyển thông tin cho cơ quan thuế để tính tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về cấp giấy chứng nhận.

b) Căn cứ Phiếu chuyển thông tin (thông tin về người sử dụng đất, diện tích đất, vị trí đất, mục đích sử dụng đất, nguồn gốc sử dụng đất; đối tượng, diện tích, mức giảm tiền sử dụng đất; giá đất tính tiền sử dụng đất) do Văn phòng đăng ký đất đai hoặc bộ phận một cửa liên thông hoặc cơ quan ký hợp đồng BT (trong trường hợp giao đất, cho thuê đất để thanh toán hợp đồng BT) hoặc cơ quan, người có thẩm quyền được giao nhiệm vụ lập Phiếu chuyển thông tin chuyển đến; trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan thuế thực hiện: tính số tiền sử dụng đất phải nộp, số tiền sử dụng đất được giảm; ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất; gửi thông báo cho người sử dụng đất, cơ quan chuyển Phiếu chuyển thông tin theo quy định".

Căn cứ điểm a mục 1 Phần II Phụ lục kèm theo Quyết định số 1037/QĐ-BTC ngày 28/04/2026 của Bộ Tài chính về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành trong lĩnh vực tài chính đất đai thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính:

"1. Thủ tục: "Thủ tục tính hoặc tính lại tiền sử dụng đất theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 12 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính phủ"

a. Trình tự thực hiện:

Bước 1: Hộ gia đình, cá nhân nộp văn bản thể hiện đề nghị tính hoặc tính lại tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm a, b, c, d khoản 2 Điều 12 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP này chậm nhất trước ngày 01 tháng 01 năm 2027 đến bộ phận một cửa liên thông.

Bước 2: Bộ phận một cửa liên thông cấp giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả; chuyển văn bản này đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất để thực hiện việc xác định hạn mức giao đất ở của thửa đất được lựa chọn để tính hoặc tính lại tiền sử dụng đất; chuyển thông tin đến cơ quan thuế.

Bước 3: Cơ quan thuế thực hiện việc tính hoặc tính lại tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định này; ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất hoặc thông báo điều chỉnh thông báo nộp tiền sử dụng đất gửi cho người sử dụng đất; đồng thời gửi thông tin đến Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định".

Căn cứ các quy định trên, để xác định thửa đất số 183 tờ bản đồ số 65 chuyển mục đích sang đất ở của ông Trần Hoàng Phúc có thuộc trường hợp được tính tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 không, cần phải xác định được đối tượng và nguồn gốc sử dụng đất.

Tuy nhiên thẩm quyền xác định đối tượng, nguồn gốc sử dụng đất không thuộc thẩm quyền của cơ quan thuế mà thuộc thẩm quyền của cơ quan lập Phiếu chuyển thông tin địa chính (UBND xã), đề nghị ông liên hệ UBND xã nơi có đất để được cung cấp thông tin.

Thuế cơ sở 1 thành phố Cần Thơ phúc đáp đến ông Trần Hoàng Phúc được biết.

Chinhphu.vn