• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Đã sửa một số quy định về bồi thường khi thu hồi đất

(Chinhphu.vn) - Bà Bảo Yến (Quảng Ninh) phản ánh một số vướng mắc, bất cập phát sinh khi tổ chức thực hiện Nghị quyết số 254/2025/QH15 quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải đáp.

22/05/2026 07:01

Bảng giá đất lần đầu áp dụng từ ngày 01/01/2026 đã được HĐND tỉnh của bà Yến thông qua. Căn cứ để xây dựng bảng giá đất lần đầu được thực hiện quy định của Luật Đất đai năm 2024, Nghị định số 71/2024/NĐ-CP ngày 27/6/2024 của Chính phủ quy định về giá đất và được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15/8/2025 của Chính phủ; trong đó giá đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được quy định trong bảng giá đất của tỉnh bằng 20% giá đất ở cùng vị trí.

Việc quy định bằng 20% giá đất ở cùng vị trí là phù hợp, phản ánh đúng thực tế đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có nhà ở có giá trị cao hơn nhiều do có các yếu tố thuận lợi hơn ảnh hưởng đến giá đất, trong đó có yếu tố chuyển mục đích sang đất ở; bảo đảm quyền lợi của người bị thu hồi đất và thuận lợi trong công tác giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất.

Theo quy định của pháp luật đất đai năm 2024, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở chỉ được xác định khi nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất đã sử dụng ổn định (công nhận quyền sử dụng đất thửa đất ở có vườn, ao) của hộ gia đình, cá nhân. Pháp luật đất đai 2024 không cho phép hợp thửa đất nông nghiệp khác (liền kề) vào thửa đất ở đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, theo khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội có hiệu lực từ ngày 01/01/2026: "… Việc hợp các thửa đất không bắt buộc cùng mục đích sử dụng đất, cùng hình thức trả tiền thuê đất, cùng thời hạn sử dụng đất".

Với quy định này thì hộ gia đình, cá nhân được phép hợp thửa các thửa đất nông nghiệp khác vào thửa đất ở và được cấp Giấy chứng nhận, trở thành đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở và được áp dụng (hưởng) chính sách đối với đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở theo quy định của tỉnh (giá đất bằng 20% giá đất ở cùng vị trí) và theo quy định của Trung ương (chuyển mục đích sang đất ở trong hạn mức bằng 30%, vượt 1 lần hạn mức bằng 50%), trong khi nếu thửa đất nông nghiệp không được hợp thửa vào thửa đất ở thì chỉ được áp dụng theo bảng giá đất nông nghiệp và khi chuyển mục đích sang đất ở phải nộp 100% tiền sử dụng đất.

Ví dụ: Giá đất trồng cây hằng năm theo bảng giá đất là 80.000 đồng/m2; giá đất ở cùng vị trí theo bảng giá đất là: 20.000.000 đồng/m2. Khi hợp thửa đất nông nghiệp vào thửa đất ở trở thành đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở thì có giá đất nông nghiệp bằng 20% giá đất ở là 4.000.000 đồng/m2 (= 20% x 20.000.000 đồng/m2).

Điều này sẽ dẫn đến những bất cập khi thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất và bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất, nhưng tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 không giao Chính phủ quy định nội dung này. Vì vậy, nội dung này cần được xử lý ngay để địa phương có cơ sở thực hiện bảo đảm tính pháp lý.

Trong quá trình áp dụng hạn mức theo khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 đã được hướng dẫn tại Điều 6 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP chỉ hướng dẫn đến điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15; trong khi theo khoản 5 Điều 116 Luật Đất đai (quy định về căn cứ để cho phép chuyển mục đích sử dụng đất) cũng thuộc điểm b khoản 1 Điều 121 Luật đất đai.

Bà Yến hỏi, vậy đối với đất nông nghiệp tại khoản 5 Điều 116 có được áp dụng như Điều 6 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP hay không? Đối với đất nông nghiệp độc lập thuộc khoản 5 Điều 116 có được áp dụng theo điểm c khoản 2 điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 hay không?

Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:

Về đề xuất có quy định hướng dẫn về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quy định tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026 nhưng đến nay Chính phủ vẫn chưa hướng dẫn:

Ngày 31/01/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai; trong đó, tại Điều 11 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP đã quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 151/2025/NĐ-CP, Nghị định số 226/2025/NĐ-CP).

Do đó, đề nghị bà nghiên cứu quy định pháp luật nêu trên để liên hệ với cơ quan có thẩm quyền được hướng dẫn thực hiện.

Cho phép chuyển mục đích và nộp tiền khi chuyển mục đích sử dụng đất là hai quy định khác nhau

Về việc chuyển mục đích sử dụng đất và nộp tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích:

Tại khoản 5 Điều 116 Luật Đất đai năm 2024 quy định: "5. Căn cứ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong khu dân cư, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở sang đất ở hoặc chuyển mục đích sử dụng các loại đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân là quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt".

Tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 quy định khi chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và g khoản 1 Điều 121 của Luật Đất đai thì người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định sau đây:

"c) Trường hợp đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được xác định khi công nhận quyền sử dụng đất mà chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở; chuyển từ đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất hoặc do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng sang đất ở thì tính tiền sử dụng đất theo mức thu bằng: 30% chênh lệch giưa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (sau đây goi tắt là chênh lệch) đối với diện tích đất chuyển mục đích sử dụng trong hạn mức giao đất ở tại địa phương; 50% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức nhưng không quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương; 100% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức mà vượt quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương. Mức thu tiền sử dụng đất nêu trên chỉ được tính một lần cho một hộ gia đình, cá nhân (tính trên 01 thửa đất)".

Theo đó tại khoản 5 Điều 116 Luật Đất đai quy định về căn cứ để cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 quy định về nộp tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và g khoản 1 Điều 121 của Luật Đất đai là các quy định khác nhau.

Chinhphu.vn