• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Nghị quyết 71: Đổi mới không thể dừng ở chính sách

(Chinhphu.vn) - Nghị quyết 71-NQ/TW đã tạo ra nhiều chuyển động về chính sách đối với đội ngũ nhà giáo. Vị thế pháp lý được củng cố, chế độ đãi ngộ từng bước được cải thiện, việc đào tạo và phát triển nghề nghiệp cũng được đặt ra với những yêu cầu mới. Tuy nhiên, theo PGS.TS Trần Thành Nam, Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, hiệu quả của đổi mới cuối cùng phải được nhìn thấy trong điều kiện làm nghề của giáo viên và trong từng lớp học.

19/09/2026 09:37
Nghị quyết 71: Đổi mới không thể dừng ở chính sách- Ảnh 1.

Nghị quyết 71-NQ/TW đã tạo ra nhiều chuyển động về chính sách đối với đội ngũ nhà giáo - Ảnh: chinhphu.vn/Thu Trang

Thực hiện Nghị quyết 71: Điều kiện làm nghề vẫn còn chênh lệch

Theo PGS.TS Trần Thành Nam, khi đánh giá việc triển khai Nghị quyết 71 cần nhìn ở ba tầng: thể chế, điều kiện bảo đảm và những thay đổi thực chất trong lớp học.

Ở tầng thể chế, nhiều chính sách đối với nhà giáo đã được cụ thể hóa. Luật Nhà giáo có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 quy định lương nhà giáo được xếp cao nhất trong hệ thống thang, bậc lương hành chính sự nghiệp, đồng thời bổ sung các chính sách về chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp, hỗ trợ nhà ở tại vùng khó khăn và bảo vệ danh dự nhà giáo.

Nghị định 182/2026/NĐ-CP cũng đưa phụ cấp ưu đãi nghề vào thực hiện với các mức từ 20% đến 80%. Lần đầu tiên, nhân sự hỗ trợ giáo dục trong trường công lập được hưởng phụ cấp 20%. Dù vậy, so với mục tiêu của Nghị quyết 71 về nâng phụ cấp tối thiểu 70% đối với giáo viên mầm non và phổ thông, chính sách hiện hành vẫn cần một lộ trình tiếp theo.

Bài toán biên chế cũng đã có chuyển biến. Nhu cầu bổ sung giáo viên cho năm học 2026-2027 giảm từ 104.516 xuống còn 43.267 người. Tuy nhiên, hơn 43.000 vị trí còn thiếu vẫn là con số lớn. Đáng chú ý, tình trạng thiếu giáo viên mang tính cục bộ theo môn học, cấp học và địa bàn. Một địa phương có thể không thiếu nếu tính trên tổng biên chế nhưng vẫn thiếu giáo viên Tiếng Anh, Tin học, Nghệ thuật hoặc mầm non ở đúng nơi học sinh cần.

Theo PGS.TS Trần Thành Nam, vị thế pháp lý của nhà giáo đã được nâng lên, một số quyền lợi vật chất đã được cải thiện. Tuy nhiên, điều kiện làm nghề giữa các vùng và giữa các nhóm giáo viên vẫn còn chênh lệch. 

Nghị quyết 71: Đổi mới không thể dừng ở chính sách- Ảnh 2.

PGS.TS Trần Thành Nam lưu ý những thay đổi không được tạo thêm áp lực cho giáo viên -Ảnh: chinhphu.vn/Thu Trang

Thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và thực tế

Một điểm nghẽn khác nằm ở khoảng cách giữa đào tạo sư phạm và thực tế lớp học. Dữ liệu TALIS 2024 của OECD với 4.410 giáo viên tại 202 trường của Việt Nam cho thấy 96% giáo viên mới tốt nghiệp trong vòng 5 năm đánh giá chương trình đào tạo ban đầu có chất lượng cao. Có 99% cho rằng mình được chuẩn bị tốt về nghiệp vụ sư phạm và 96% về kiến thức môn học.

Tuy nhiên, chỉ 37% giáo viên mới cảm thấy được chuẩn bị tốt để dạy trong môi trường đa văn hóa hoặc đa ngôn ngữ. Hơn 60% có nhu cầu bồi dưỡng thêm về quản lý hành vi học sinh, trong khi mới có 40% giáo viên dưới 5 năm kinh nghiệm được phân công người hướng dẫn chuyên môn.

Theo PGS.TS Trần Thành Nam, điểm nghẽn nằm ở giai đoạn chuyển tiếp từ sinh viên sư phạm sang giáo viên đứng lớp độc lập. Sinh viên có thể nắm chắc lý thuyết và thiết kế một tiết dạy mẫu, nhưng thực tế lớp học phức tạp hơn nhiều, từ khác biệt về năng lực, động cơ học tập đến hoàn cảnh gia đình, hành vi và sức khỏe tinh thần của học sinh.

Do đó, đào tạo giáo viên cần thay đổi từ chuẩn đầu ra và cách tổ chức thực hành. Thời gian thực hành phải được phân bố xuyên suốt quá trình đào tạo và gắn với mạng lưới trường phổ thông đối tác. Giáo viên phổ thông giỏi cần tham gia hướng dẫn thực hành, trong khi giảng viên sư phạm cũng phải duy trì tiếp xúc thường xuyên với trường học.

Với giáo viên mới, cần có một giai đoạn tập sự nghề nghiệp thực chất và có người hướng dẫn. Bồi dưỡng thường xuyên cũng nên diễn ra ngay tại trường, dựa trên những vấn đề thật của học sinh. Theo PGS.TS Trần Thành Nam, hiệu quả bồi dưỡng phải được đo bằng thay đổi trong thực hành dạy học, thay vì số chứng chỉ hay số giờ tham dự.

Cùng với yêu cầu thực hành, sự xuất hiện ngày càng sâu của AI trong dạy học cũng đòi hỏi giáo viên phải bổ sung những năng lực mới. TALIS 2024 cho thấy 64% giáo viên Việt Nam đã sử dụng AI trong công việc, cao hơn mức trung bình 36% của OECD. Tuy nhiên, trong nhóm chưa sử dụng, 60% cho biết chưa đủ kiến thức, kỹ năng và 71% cho rằng trường học thiếu hạ tầng, công cụ cần thiết.

Theo PGS.TS Trần Thành Nam, AI sẽ làm giảm vai trò truyền đạt thông tin đơn thuần. Giáo viên sẽ phải tập trung nhiều hơn vào thiết kế hoạt động học tập, đặt câu hỏi, hướng dẫn tư duy, phát hiện nhu cầu của học sinh và kiểm chứng thông tin. Vì vậy, năng lực AI của giáo viên không thể chỉ là biết sử dụng công cụ. Nó phải bao gồm khả năng kiểm chứng kết quả, bảo vệ dữ liệu và thiết kế hoạt động buộc học sinh phải tư duy. 

Cần giảm áp lực cho giáo viên

PGS.TS Trần Thành Nam cho rằng áp lực của giáo viên không chỉ đến từ khối lượng công việc mà còn từ việc phải chịu trách nhiệm về những vấn đề vượt quá phạm vi kiểm soát của mình.

Có 54% giáo viên Việt Nam chịu áp lực đáng kể vì phải chịu trách nhiệm về kết quả học tập của học sinh, 54% từ việc duy trì kỷ luật lớp học và 52% từ yêu cầu theo kịp thay đổi của chương trình. Đáng chú ý, 39% cho rằng trường đang triển khai quá nhiều sáng kiến thay đổi và 45% muốn có một giai đoạn ổn định trước khi tiếp tục áp dụng những thay đổi mới.

Theo PGS.TS Trần Thành Nam, một chủ trương đúng vẫn có thể tạo thêm áp lực nếu giáo viên phải thực hiện trong thời gian quá ngắn, qua nhiều biểu mẫu và thiếu công cụ hỗ trợ. Vì vậy, mỗi chính sách mới cần tính đến tác động đối với thời gian lao động của giáo viên. Khi phát sinh một nhiệm vụ, phải chỉ rõ nhiệm vụ nào được cắt giảm, ai hỗ trợ và kết quả được đo bằng tiêu chí nào.

Đặc biệt, dữ liệu đã có trên hệ thống không nên tiếp tục yêu cầu giáo viên nhập lại. Chuyển đổi số phải trả lại thời gian cho người thầy, thay vì tạo thêm một tầng công việc hành chính. Bên cạnh đó, nhà trường cần đủ nhân sự hỗ trợ về tâm lý, công tác xã hội, y tế, công nghệ và hành chính. Giáo viên có thể nhận diện khó khăn của học sinh nhưng không thể đồng thời đảm nhiệm mọi vai trò chuyên môn. 

Nghị quyết 71: Đổi mới không thể dừng ở chính sách- Ảnh 3.

Môi trường làm việc, cơ hội phát triển và sự công bằng trong đánh giá là những yếu tố quan trọng để thu hút giáo viên - Ảnh: chinhphu.vn/Thu Trang

Giữ người giỏi cần nhiều hơn chính sách tiền lương

Theo PGS.TS Trần Thành Nam, tiền lương và chế độ đãi ngộ là điều kiện quan trọng nhưng chưa đủ để tạo sức hút lâu dài với nghề giáo. Môi trường làm việc, khối lượng công việc, quyền tự chủ chuyên môn, cơ hội phát triển và sự công bằng trong đánh giá cũng có ý nghĩa quyết định.

Ông cho rằng sự yêu nghề không thể bù đắp lâu dài cho áp lực công việc, cơ hội phát triển hạn chế hay tình trạng quá tải cảm xúc. Vì vậy, cùng với chính sách tiền lương và phụ cấp, cần có chính sách thu hút đúng vào những môn học, cấp học và địa bàn đang thiếu giáo viên. Với vùng khó khăn, hỗ trợ cũng phải tính đến nhà ở, điều kiện sinh hoạt và cơ hội phát triển của gia đình giáo viên. Giáo viên giỏi cũng cần có con đường phát triển nghề nghiệp và thu nhập mà không nhất thiết phải chuyển sang làm quản lý. Đồng thời, nhà trường cần được trao thêm quyền chủ động trong tuyển dụng, sử dụng và bồi dưỡng giáo viên, đi cùng trách nhiệm giải trình.

PGS.TS Trần Thành Nam cho rằng, trong những năm tới, hiệu quả thực hiện Nghị quyết 71 cần được đo bằng những chỉ số gần với đời sống nhà giáo hơn. Đó là tỷ lệ thiếu giáo viên theo từng môn và địa bàn, số người dự tuyển cho mỗi vị trí, tỷ lệ giáo viên rời nghề trong 5 năm đầu, thời gian dành cho công việc hành chính, tỷ lệ giáo viên mới có người hướng dẫn, mức độ an toàn tâm lý và mức tiến bộ của học sinh.

Theo PGS.TS Trần Thành Nam, Nghị quyết 71 đã tạo được khung chính sách mới cho nghề giáo. Vấn đề trong giai đoạn tới là những chính sách đó phải trở thành thay đổi cụ thể trong công việc hằng ngày của người thầy. Khi giáo viên có đủ thời gian cho chuyên môn, đủ năng lực trước công nghệ mới và đủ an tâm để gắn bó với nghề, đổi mới mới thực sự đi vào lớp học. 

Thu Trang