• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Tổ chức lại 33 chương trình khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia trong năm 2026

(Chinhphu.vn) - Trong năm 2026, Bộ KH&CN sẽ rà soát, tổ chức lại 33 chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia, gồm 25 chương trình thuộc thẩm quyền Bộ trưởng KH&CN và 8 chương trình thuộc thẩm quyền Thủ tướng Chính phủ, nhằm giảm trùng lặp, tập trung nguồn lực cho các nhiệm vụ trọng điểm.

04/11/2026 15:56
Tổ chức lại 33 chương trình khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia trong năm 2026 - Ảnh 1.

Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ - Ảnh: chinhphu.vn

Tại họp báo thường kỳ Bộ KH&CN ngày 4/11, ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ đã thông tin cụ thể về Đề án “Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026-2035” (Quyết định số 1951/QĐ-TTg).

Khắc phục tình trạng phân tán, trùng lặp nguồn lực

Theo ông Hoàng Anh Tú, trong thời gian qua, các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đã có những đóng góp quan trọng vào phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước.

Giai đoạn 2016-2025, với khoảng 42 chương trình, cả nước đã triển khai khoảng 4.800 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, công bố 6.677 bài báo quốc tế thuộc hệ thống WOS và Scopus, đồng thời đào tạo được 1.579 tiến sĩ. Những kết quả này góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của Việt Nam.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cũng bộc lộ một số hạn chế. Nguồn nhân lực còn phân tán, số lượng chương trình và nhiệm vụ tương đối nhiều, trong khi không ít nhiệm vụ có quy mô nhỏ, nội dung hoặc mục tiêu giao thoa.

Bên cạnh đó, tính liên thông giữa kết quả nghiên cứu với hoạt động phát triển công nghệ, hình thành sản phẩm, ứng dụng và thương mại hóa chưa thực sự hiệu quả. Phương thức quản lý còn thiên về theo dõi quá trình thực hiện, trong khi việc đánh giá hiệu quả và tác động thực tế của các chương trình chưa được quan tâm đầy đủ.

Từ thực tế này, việc tái cấu trúc được xác định là yêu cầu cần thiết nhằm khắc phục những điểm nghẽn, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn mới.

Tổ chức lại thành 6 nhóm chương trình quốc gia 

Tinh thần xuyên suốt của Đề án là chuyển từ quản lý theo nhiệm vụ sang quản lý theo mục tiêu, sản phẩm, hiệu quả và tác động thực tế. Theo đó, hệ thống chương trình sẽ được tổ chức lại thành 6 nhóm.

Cụ thể, nhóm thứ nhất là phát triển tiềm lực, tập trung phát triển nguồn nhân lực, các tổ chức nghiên cứu, phòng thí nghiệm và hạ tầng khoa học công nghệ dùng chung.

Nhóm thứ hai là nghiên cứu cơ bản nhằm tạo ra tri thức mới, các luận cứ khoa học và nền tảng cho phát triển công nghệ.

Nhóm thứ ba là các chương trình trọng điểm quốc gia, tập trung giải quyết những bài toán lớn có tính liên ngành, tạo ra các sản phẩm và giải pháp phục vụ phát triển đất nước.

Nhóm thứ tư là đổi mới sáng tạo, thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao công nghệ, phát triển thị trường và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Nhóm thứ năm là các chương trình quốc gia đặc biệt, tập trung vào nghiên cứu, phát triển, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và hình thành các sản phẩm công nghệ chiến lược.

Nhóm thứ sáu là chuyển đổi số quốc gia, phục vụ phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và đổi mới phương thức quản trị trên môi trường số.

Để hiện thực hóa định hướng này, trong năm 2026, Bộ KH&CN sẽ rà soát, tổ chức lại 33 chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia, trong đó có 25 chương trình thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ trưởng Bộ KH&CN và 8 chương trình thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ.

Quá trình rà soát, tổ chức lại được thực hiện qua 4 bước: Đánh giá sự cần thiết, kết quả thực hiện, hiệu quả và mức độ trùng lặp giữa các chương trình; xây dựng phương án tổ chức lại, xác định rõ mục tiêu, phạm vi, sản phẩm đầu ra và phương án xử lý đối với từng chương trình; trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; tổ chức thực hiện và chuyển tiếp, bảo đảm xử lý phù hợp các nhiệm vụ, hợp đồng, kinh phí, tài sản và kết quả nghiên cứu đã hình thành.

Trên cơ sở kết quả rà soát, các chương trình có thể được tiếp tục triển khai, điều chỉnh, tích hợp, thay thế hoặc kết thúc. Việc tổ chức lại phải dựa trên đánh giá khách quan, khoa học, bảo đảm đúng thẩm quyền và không làm gián đoạn các nhiệm vụ đã được phê duyệt.

Thông qua quá trình này, Bộ Khoa học và Công nghệ hướng tới khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực, giảm trùng lặp, tập trung đầu tư cho những nhiệm vụ có quy mô, trọng tâm, trọng điểm và khả năng tạo ra kết quả thực chất.

Đo lường hiệu quả bằng sản phẩm và khả năng làm chủ công nghệ

Một điểm đáng chú ý của Đề án là xác định các mục tiêu cụ thể, có thể đo lường, thay vì chỉ dừng ở những định hướng mang tính định tính.

Cụ thể đến năm 2030, ít nhất 50% nhiệm vụ đặt hàng có doanh nghiệp chủ trì hoặc phối hợp thực hiện; ti lệ này tăng lên 60% vào năm 2035.

Tỉ lệ kết quả nghiên cứu được bảo hộ sở hữu trí tuệ hoặc công bố quốc tế phấn đấu đạt 40% vào năm 2030 và 50% vào năm 2035. Đồng thời, hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn khu vực vào năm 2030 và ít nhất 50 nhóm đạt chuẩn quốc tế vào năm 2035.

Về phát triển sản phẩm, Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành ít nhất 20 sản phẩm trọng điểm, sản phẩm chiến lược; đến năm 2035 có ít nhất 50 sản phẩm được thương mại hóa ở quy mô công nghiệp.

Số lượng doanh nghiệp làm chủ công nghệ cũng được xác định là một chỉ tiêu quan trọng, với mục tiêu ít nhất 20 doanh nghiệp vào năm 2030 và ít nhất 30 doanh nghiệp vào năm 2035.

Theo ông Hoàng Anh Tú, những chỉ tiêu này thể hiện sự chuyển dịch trong tư duy quản lý. Thành công của các chương trình khoa học và công nghệ không chỉ được đo bằng số lượng công trình nghiên cứu, mà ngày càng phải thể hiện thông qua năng lực làm chủ công nghệ, số lượng và chất lượng sản phẩm được thương mại hóa cũng như sự tham gia thực chất của doanh nghiệp.

Cùng với việc tổ chức lại hệ thống chương trình, phương thức đánh giá cũng được đổi mới theo mô hình IOI, gồm 4 cấp độ.

Ở cấp độ đầu vào, việc đánh giá tập trung vào các nguồn lực như kinh phí, nhân lực và hạ tầng nghiên cứu. Cấp độ đầu ra xem xét những công nghệ, sáng chế và sản phẩm được tạo ra.

Ở cấp độ hiệu quả, trọng tâm là khả năng ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Cuối cùng, cấp độ tác động đánh giá những đóng góp của chương trình đối với năng suất, năng lực cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế.

Như vậy, việc đánh giá sẽ từng bước chuyển từ chủ yếu dựa trên hoạt động và kết quả trực tiếp sang xem xét toàn diện hơn hiệu quả, tác động của đầu tư khoa học và công nghệ.

Theo ông Hoàng Anh Tú, việc tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia không đơn thuần là sắp xếp lại hệ thống chương trình, mà còn là đổi mới phương thức tổ chức và quản lý hoạt động khoa học và công nghệ. Qua đó, tập trung nguồn lực cho các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy làm chủ công nghệ, hình thành sản phẩm và nâng cao đóng góp của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo đối với tăng trưởng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Thu Giang