• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Đơn phương nghỉ việc có được trợ cấp thôi việc?

(Chinhphu.vn) - Ông Trần Phương làm việc theo hợp đồng lao động tại công ty từ đầu tháng 02/2025 đến hết ngày 21/3/2026, trong đó có 2 tháng thử việc không tham gia BHXH. Ông đơn phương chấm dứt hợp đồng theo khoản 9 Điều 34 Bộ luật Lao động, đã bàn giao đầy đủ công việc, có biên bản xác nhận bàn giao và có thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động giữa 2 bên.

24/06/2026 12:06

Theo Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên. Sau khi nghỉ việc, ông Phương có hỏi về khoản trợ cấp thôi việc thì được Giám đốc Điều hành của công ty trả lời rằng ông đơn phương xin nghỉ việc nên điều khoản này không được áp dụng.

Ông Phương hỏi, trường hợp của ông có được nhận trợ cấp thôi việc không, và cách giải thích của doanh nghiệp có đúng theo tinh thần của Bộ luật Lao động không?

Về vấn đề này, Bộ Nội vụ trả lời như sau:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật Lao động năm 2019 thì trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại khoản 9 Điều 34 Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên.

Khoản 3 Điều 8 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động, thì thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

Trong đó, tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm thời gian thử việc; thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người lao động thuộc diện không phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật nhưng được người sử dụng lao động chi trả cùng với tiền lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức người sử dụng lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo quy định của pháp luật về lao động, bảo hiểm thất nghiệp.

Đề nghị ông Trần Phương căn cứ các quy định nêu trên để đề nghị công ty trả trợ cấp thôi việc theo đúng quy định của pháp luật lao động.

Chinhphu.vn