Quy định kiểm soát, giám sát trọng điểm người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế
(Chinhphu.vn) - Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 94/2026/TT-BTC quy định về quản lý tuân thủ, quản lý rủi ro trong quản lý thuế. Trong đó nêu rõ quy định về kiểm soát, giám sát trọng điểm đối với người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế.

Kiểm soát, giám sát trọng điểm đối với người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế
Kiểm soát, giám sát trọng điểm đối với người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế
Điều 9 Thông tư quy định, người nộp thuế thuộc trường hợp giám sát trọng điểm về thuế là người nộp thuế có một trong các dấu hiệu sau:
- Người nộp thuế thực hiện các giao dịch qua ngân hàng có dấu hiệu đáng ngờ theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền có liên quan đến trốn thuế, gian lận thuế.
- Người nộp thuế hoặc người đại diện hợp pháp của người nộp thuế bị khởi tố về các hành vi vi phạm về thuế, hóa đơn, chứng từ.
- Người nộp thuế có dấu hiệu rủi ro cao về thuế thuộc chuyên đề trọng điểm hoặc qua thu thập thông tin từ công tác quản lý của cơ quan thuế cần giám sát quản lý thuế.
- Người nộp thuế thuộc mức không tuân thủ pháp luật thuế theo quy định tại Điều 10 Thông tư này; người nộp thuế không giải trình, bổ sung thông tin hoặc có giải trình, bổ sung thông tin nhưng không đầy đủ theo yêu cầu và thời hạn tại thông báo bằng văn bản của cơ quan thuế.
Cơ quan thuế các cấp có trách nhiệm theo dõi, giám sát, áp dụng các biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế phù hợp với từng trường hợp nêu trên.
Cục Thuế hướng dẫn cụ thể việc thu thập, phân tích thông tin, xác định trọng điểm giám sát, biện pháp giám sát, thời hạn giám sát phù hợp với quy định của pháp luật trong từng thời kỳ.
Phân loại mức độ tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế
Theo quy định tại Điều 10 của Thông tư, người nộp thuế được đánh giá, phân loại theo một trong các mức độ tuân thủ pháp luật thuế sau đây:
Mức độ tuân thủ pháp luật thuế là kết quả đánh giá, phân loại của cơ quan thuế về việc thực hiện đầy đủ, đúng hạn và đúng quy định các nghĩa vụ theo pháp luật thuế của người nộp thuế trong suốt quá trình đăng ký, kê khai, nộp thuế, báo cáo thuế và cung cấp thông tin cho cơ quan thuế.
Mức 1: Tuân thủ tốt.
Mức 2: Tuân thủ trung bình.
Mức 3: Tuân thủ thấp.
Mức 4: Không tuân thủ.
2. Mức độ tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế được phân loại dựa trên các tiêu chí quy định tại Phụ lục I kèm theo Thông tư này gồm 28 tiêu chí được chia thành 11 nhóm: Tình trạng hoạt động của người nộp thuế; thông tin của người đại diện theo pháp luật của người nộp thuế; tình hình kê khai và nộp hồ sơ khai thuế; tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước; tình hình sử dụng hóa đơn; mức độ vi phạm hành chính về thuế; tình hình nợ thuế; chỉ số hoạt động; người nộp thuế tự nguyện đăng ký tuân thủ pháp luật thuế; doanh nghiệp có giao dịch liên kết, đáng ngờ; nhóm tiêu chí khác.
Kết quả đánh giá, phân loại mức độ tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế được cơ quan thuế theo dõi, xử lý như sau:
Đối với người nộp thuế thuộc mức không tuân thủ, cơ quan thuế thực hiện các biện pháp quản lý theo quy định tại Điều 9 và áp dụng các biện pháp nâng cao tuân thủ theo quy định tại Điều 11 Thông tư này.
Đối với người nộp thuế thuộc các mức tuân thủ tốt, trung bình, thấp, cơ quan thuế áp dụng biện pháp nâng cao tuân thủ theo quy định tại Điều 11 Thông tư này.
Các biện pháp nâng cao tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế
Điều 11 Thông tư nêu rõ, căn cứ kết quả phân loại mức độ tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế nêu trên, cơ quan thuế thực hiện phân tích bản chất hành vi, quy mô của mỗi mức độ tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế, xây dựng kế hoạch nâng cao tuân thủ pháp luật thuế với các biện pháp xử lý phù hợp với mỗi vấn đề tuân thủ như sau:
Đối với trường hợp tuân thủ tốt:
Được đưa vào danh sách để xem xét, lựa chọn tuyên dương, khen thưởng theo quy định đối với người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật thuế.
Được áp dụng chế độ ưu tiên trong quản lý thuế khi khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 48 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP.
Đối với các trường hợp cần nâng cao tuân thủ:
Phối hợp với các cơ quan nhà nước, tổ chức liên quan, các đại lý thuế để triển khai các biện pháp nâng cao tuân thủ, các biện pháp hỗ trợ, hướng dẫn người nộp thuế thực hiện các thủ tục về thuế; tổ chức các chương trình tiếp xúc với người nộp thuế, hội nghị đối thoại, hội thảo giúp người nộp thuế thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ thuế.
Nghiên cứu đề xuất, sửa đổi bổ sung chính sách, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, triển khai các biện pháp hỗ trợ, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế trong việc kê khai, nộp thuế tiết kiệm thời gian và chi phí tuân thủ cho người nộp thuế;
Thực hiện phân loại rủi ro và áp dụng các biện pháp quản lý thuế tương ứng với các mức rủi ro người nộp thuế quy định tại các Điều 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19 và 20 Thông tư này./.