• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Tính tiền lương Thành viên hội đồng trong doanh nghiệp nhà nước

(Chinhphu.vn) - Nhà nước đã giao cho Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty quyết định tiền lương của người lao động, Ban điều hành, Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên căn cứ vào hợp đồng lao động, năng suất lao động, hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

21/08/2026 11:05

Ông Hồng Phúc (Tây Ninh) phản ánh, khoản 1 Điều 5 Nghị định số 248/2025/NĐ-CP quy định, doanh nghiệp có lợi nhuận và lợi nhuận thực hiện không thấp hơn kế hoạch thì mức tiền lương tối đa bằng 2 lần mức lương cơ bản, nếu lợi nhuận thực hiện vượt kế hoạch thì thực hiện theo nguyên tắc 1% lợi nhuận vượt so với kế hoạch, được tính thêm 2% mức tiền lương nhưng không quá 20% mức tiền lương tính trên cơ sở 2 lần mức lương cơ bản. Trường hợp lợi nhuận thực hiện thấp hơn kế hoạch thì mức tiền lương tối đa được tính bằng 80% nhân với 2 lần mức lương cơ bản và nhân với tỷ lệ lợi nhuận thực hiện so với lợi nhuận kế hoạch, nhưng không thấp hơn 80% mức lương cơ bản.

Ông Phúc hỏi, căn cứ khi xây dựng kế hoạch tiền lương đối với Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên có cần so sánh lợi nhuận kế hoạch và lợi nhuận thực hiện năm trước liền kề để so sánh tăng giảm lợi nhuận kế hoạch từ đó xác định mức tiền lương theo như khoản 1 Điều 5 Nghị định số 248/2025/NĐ-CP không vì hiện có 2 cách hiểu như sau:

Cách hiểu thứ nhất, nếu lợi nhuận tăng thì mức tiền lương tối đa bằng 2 lần mức lương cơ bản, nếu lợi nhuận kế hoạch tăng thì thực hiện theo nguyên tắc 1% lợi nhuận vượt, được tính thêm 2% mức tiền lương nhưng không quá 20% mức tiền lương tính trên cơ sở 2 lần mức lương cơ bản. Trường hợp lợi nhuận kế hoạch thấp hơn lợi nhuận thực hiện năm trước liền kế thì mức tiền lương tối đa được tính bằng 80% nhân với 2 lần mức lương cơ bản và nhân với tỷ lệ lợi nhuận kế hoạch so với lợi nhuận thực hiện năm trước liền kề, nhưng không thấp hơn 80% mức lương cơ bản.

Cách hiểu thứ hai, khi xây dựng kế hoạch, không căn cứ vào lợi nhuận thực hiện năm trước, chỉ căn cứ lợi nhuận năm kế hoạch, nếu lợi nhuận kế hoạch >0 thì tiền lương Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên chuyên trách được xác định là 2 lần mức lương cơ bản, thực hiện nếu lợi nhuận tăng 1% thì tính thêm 2% mức tiền lương nhưng không quá 20% mức tiền lương tính trên cơ sở 2 lần mức lương cơ bản.

Ông Phúc hỏi, với hai cách hiểu trên, cách hiểu nào là đúng?

Về vấn đề này, Bộ Nội vụ trả lời như sau:

Theo quy định tại Điều 24 Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp số 68/2025/QH15 thì Nhà nước đã giao cho Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty quyết định tiền lương của người lao động, Ban điều hành, Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên căn cứ vào hợp đồng lao động, năng suất lao động, hiệu quả sản xuất, kinh doanh và chi trả tiền lương cho người lao động, các chức danh quản lý của doanh nghiệp, trong đó mức tiền lương, thù lao chi trả cho Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên không được vượt quá mức tiền lương, thù lao tối đa quy định tại Nghị định số 248/2025/NĐ-CP ngày 15/9/2025 của Chính phủ quy định chế độ tiền lương, thù lao, tiền thưởng của người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, người đại diện phần vốn nhà nước và Kiểm soát viên trong doanh nghiệp nhà nước.

Chinhphu.vn