Trao cơ hội để phụ nữ trở thành động lực của tăng trưởng xanh
(Chinhphu.vn) - Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tư nhân, phụ nữ ngày càng khẳng định vai trò là lực lượng quan trọng. Tuy nhiên, để phát huy hết tiềm năng, cần tháo gỡ những rào cản để phụ nữ thực sự trở thành động lực của tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

Bà Trịnh Thị Hương, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) trình bày tham luận tại phiên thảo luận - Ảnh: VGP/Vũ Phong
Sáng 17/6, tại ngày làm việc thứ nhất Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XIV, đã diễn ra phiên thảo luận về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững của đất nước.
Tham luận tại đây, bà Trịnh Thị Hương, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) nhấn mạnh, trong kỷ nguyên số và kinh tế xanh, doanh nhân nữ không chỉ thích ứng mà hoàn toàn có thể kiến tạo và dẫn dắt sự thay đổi.
Hiện doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ chiếm khoảng 21-25% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Không chỉ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, nhiều doanh nghiệp nữ còn tiên phong ứng dụng công nghệ số, phát triển mô hình kinh doanh xanh, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và thương mại điện tử, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm địa phương, tạo sinh kế cho cộng đồng và phát triển bền vững.
Bà Trịnh Thị Hương dẫn chứng, nhiều nữ doanh nhân đã nhanh chóng làm chủ các nền tảng số và trí tuệ nhân tạo. Tại một khóa đào tạo về thương mại điện tử, chỉ sau hai ngày tiếp cận công cụ số, một nhóm 7-8 nữ doanh nhân đã thực hiện phiên livestream đạt doanh số hơn 200 triệu đồng trong một giờ, chủ yếu từ nông sản và sản phẩm thủ công mỹ nghệ địa phương.
"Câu chuyện này cho thấy khi được trao đúng công cụ, tri thức và cơ hội, phụ nữ có thể bước vào nền kinh tế số một cách nhanh chóng, tự tin và hiệu quả", bà Trịnh Thị Hương bày tỏ.
Tuy nhiên, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể cho rằng doanh nghiệp nữ vẫn đối mặt với nhiều khó khăn như quy mô nhỏ, hạn chế trong tiếp cận tín dụng, thiếu kỹ năng số và thiếu các chương trình hỗ trợ chuyên biệt. Vì vậy, cần xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ, phát triển các gói hỗ trợ "chuyển đổi kép" kết hợp chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, đồng thời mở rộng cơ hội tiếp cận tài chính, công nghệ và thị trường cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ.
Phụ nữ tiên phong trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
GS.TS Trần Thị Việt Nga, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, cho rằng phụ nữ đang ngày càng khẳng định vai trò tiên phong trong nghiên cứu và chuyển giao các công nghệ phục vụ kinh tế xanh, từ vật liệu mới, năng lượng tái tạo đến xử lý chất thải và chuyển đổi số gắn với bảo vệ môi trường. Nhiều công trình nghiên cứu do các nhà khoa học nữ chủ trì đã ứng dụng thành công công nghệ tái chế phụ phẩm nông nghiệp thành vật liệu sinh học, phát triển bê tông thân thiện môi trường, nghiên cứu vật liệu tích trữ năng lượng và công nghệ hydro xanh.
Bên cạnh đó, các nhà khoa học nữ còn đóng góp tích cực vào quá trình "chuyển đổi kép" thông qua việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong quản lý môi trường, dự báo chất lượng không khí, quản lý nước đô thị và truy xuất nguồn gốc nông sản. Tuy vậy, họ vẫn gặp không ít rào cản về định kiến giới trong lĩnh vực STEM, khó tiếp cận nguồn vốn xanh và công nghệ chuyên sâu.
Theo GS.TS Trần Thị Việt Nga, đầu tư cho phụ nữ trong nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo không chỉ nhằm thực hiện bình đẳng giới mà còn là lựa chọn chiến lược để thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững của quốc gia.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, bà Nguyễn Thị Hoàng Yến, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nhận định phụ nữ đang là lực lượng quan trọng thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao, phát triển kinh tế tập thể và xây dựng chuỗi giá trị nông sản bền vững. Theo số liệu được dẫn trong tham luận, phụ nữ chiếm khoảng 52% lực lượng lao động nông nghiệp và tham gia hầu hết các khâu của chuỗi giá trị, từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm.
Đến nay, cả nước có trên 23.556 hợp tác xã nông nghiệp, hơn 35.000 tổ hợp tác với khoảng 4,4 triệu thành viên, trong đó có hơn 2.600 hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao và trên 2.573 hợp tác xã là chủ thể sản phẩm OCOP. Nhiều hợp tác xã do phụ nữ làm nòng cốt đã ứng dụng chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và sản xuất theo tiêu chuẩn xanh, vừa nâng cao giá trị nông sản, vừa bảo tồn văn hóa bản địa và tạo việc làm ổn định cho phụ nữ nông thôn. Tuy nhiên, tỉ lệ phụ nữ giữ vai trò lãnh đạo hợp tác xã mới khoảng 25-30%, chưa tương xứng với những đóng góp thực tế.
Có thể thấy, muốn phát huy vai trò của phụ nữ trong giai đoạn phát triển mới cần tạo điều kiện để phụ nữ tiếp cận công bằng với công nghệ, tài chính, tri thức và thị trường; đồng thời tháo gỡ các rào cản về kỹ năng, nguồn lực và cơ chế hỗ trợ để phụ nữ phát huy vai trò trong chuyển đổi số, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Anh Thơ