Khai thuế đất theo quyết định chuyển mục đích hay ngày cấp Giấy chứng nhận?
(Chinhphu.vn) - Trong trường hợp chuyển mục đích, doanh nghiệp đang nắm giữ quyết định cho phép chuyển mục đích chính là người đang sử dụng đất theo mục đích mới và có trách nhiệm kê khai nộp thuế.
Ông Vũ Như Bách (TPHCM) đề nghị cơ quan chức năng hướng dẫn trường hợp sau:
Doanh nghiệp đã nhận chuyển nhượng một phần diện tích đất ở và đã kê khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với phần đất ở này từ năm 2021.
Đối với phần diện tích đất còn lại, năm 2022, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án. Tuy nhiên, đến tháng 12/2025, cơ quan nhà nước mới xác định xong nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích và doanh nghiệp đã nộp đầy đủ trong tháng 12/2025.
Đến năm 2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường mới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi nhận mục đích sử dụng đất mới.
Theo quy định về quản lý thuế, thời hạn kê khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là 30 ngày kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ thuế hoặc ngày phát sinh thay đổi các yếu tố làm thay đổi căn cứ tính thuế.
Tuy nhiên, thực tế nêu trên phát sinh cách hiểu khác nhau về thời điểm kê khai đối với phần đất được chuyển mục đích.
Ông Bách hỏi, đối với phần diện tích đất được cơ quan nhà nước cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, doanh nghiệp phải kê khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp trong thời hạn 30 ngày kể từ thời điểm nào: kể từ ngày quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất có hiệu lực; hay kể từ ngày doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi nhận mục đích sử dụng đất mới?
Trường hợp thời điểm kê khai được xác định là ngày có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, ông Bách đề nghị hướng dẫn thêm: doanh nghiệp căn cứ vào hồ sơ, tài liệu nào để kê khai khi tại thời điểm đó chưa được cấp Giấy chứng nhận ghi nhận mục đích sử dụng đất mới?
Về vấn đề này, Thuế Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:
Căn cứ khoản 2 Điều 3 Thông tư số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp:
"2. Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) thì người đang sử dụng đất là người nộp thuế".
Căn cứ khoản 3 Điều 10 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định một số điều của Luật Quản lý thuế:
"3. Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
a) Đối với tổ chức:
a.1) Kê khai lần đầu: Thời hạn nộp hồ sơ chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.
a.2) Trong chu kỳ ổn định, hàng năm tổ chức không phải kê khai lại thuế sử dụng đất phi nông nghiệp nếu không có sự thay đổi về người nộp thuế và các yếu tổ dẫn đến thay đổi số thuế phải nộp.
a.3) Kê khai khi có phát sinh thay đổi các yếu tố làm thay đổi căn cứ tính thuế dẫn đến tăng, giảm số thuế phải nộp và khai bổ sung khi phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế có sai sót ảnh hưởng đến số thuế phải nộp: Thời hạn nộp hồ sơ chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày phát sinh thay đổi.
Khai bổ sung hồ sơ khai thuế được áp dụng đối với: Trường hợp phát sinh các yếu tố làm thay đổi căn cứ tính thuế dẫn đến tăng, giảm số thuế phải nộp; trường hợp phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế có sai sót, nhầm lẫn gây ảnh hưởng đến số thuế phải nộp".
Căn cứ khoản 1 Điều 15 Thông tư số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp:
"1. Đối với trường hợp khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp phải nộp của năm, hồ sơ gồm:
Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp cho từng thửa đất chịu thuế theo mẫu số 01/TK-SDDPNN áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân hoặc mẫu số 02/TK-SDDPNN áp dụng cho tổ chức, ban hành kèm theo Thông tư này
- Bản chụp các giấy tờ liên quan đến thửa đất chịu thuế như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyết định giao đất, Quyết định hoặc Hợp đồng cho thuê đất, Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;
- Bản chụp các giấy tờ chứng minh thuộc diện được miễn, giảm thuế (nếu có)".
Căn cứ các quy định nêu trên, theo trường hợp ông Bách trình bày, Thuế Thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn về mặt nguyên tắc như sau:
Việc chưa có Giấy chứng nhận không miễn trừ nghĩa vụ thuế và người đang thực tế sử dụng đất vẫn là người nộp thuế.
Trong trường hợp chuyển mục đích, doanh nghiệp đang nắm giữ quyết định cho phép chuyển mục đích chính là người đang sử dụng đất theo mục đích mới và có trách nhiệm kê khai nộp thuế.
Doanh nghiệp căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 10 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 và khoản 1 Điều 15 Thông tư số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 để thực hiện việc kê khai nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.
Đề nghị người nộp thuế căn cứ vào tình hình thực tế và đối chiếu với các quy định tại văn bản pháp luật nêu trên để thực hiện đúng quy định.
Chinhphu.vn